Pages

Được tạo bởi Blogger.

Điều lệ làng về việc thu tiền lãi và chia ruộng luận phiên

Điều 25: Số tiền vốn của tổ tiên để lại cho phép thu tiền lãi mỗi quan là 4 mạch tiền một năm. Điều này đã được ghi ở trên. Nay cho phép thu thêm tiền lãi mỗi quan là 2 mạch một năm. Số tiền này chia cho 2 ngày lễ tế để biện lễ hoặc lúc thiếu tiền. Nay cho phép thu tăng thêm tiền lãi mỗi quan là 3 mạch tiền 1 năm. Số tiền này dùng để biện lễ cho 2 kỳ tế lễ.

Điều 26: Năm Nhâm Thân, hội tư văn chiếu thu số tiền vốn để mua thêm ruộng tự điền tại xứ Cửa Đình chia đều làm 4 phần, lúc đó đã ghi lại làm điều lệ, xong viên thủ bạ cũ làm mất điều lệ này. Nay xin chép lại để tiện ghi nhận.

- Phần thứ nhất: góc Đông bắc

- Phần thứ hai: góc Tây bắc

- Phần thứ ba: góc Đông nam

- Phần thứ tư: góc Tây nam

Số ruộng trên tổng cộng 4 mẫu, 2 sào 7 thốn 1 thước 7 tấc chia đều làm 4 phần. Luân phiên nhau mỗi năm 4 người canh tác. Bất luận lớn bé mỗi năm chiểu thu mỗi phần 15 quan thanh tiền (tiền đồng). Số tiền này chia cho 2 kỳ tế lễ và được giao cho quan câu đương biện lễ vật. Các hạng tô thuế do bản xã chịu.

Điều lệ làng về việc thu tiền lãi và chia ruộng luận phiên

Điều 27: Hàng năm cử 4 người lo việc biện lễ cúng: vào tiết Thượng nguyên cử 2 người biện cỗ dâng lên chùa, vào tiết Trung thu cử 2 người biện lễ dâng lên đình, kính lễ các bộ hạ cùng các quan viên thổ thần, thổ địa. Sau đó thấy công việc quá nặng nề bèn bỏ đi. Nay thiết nghĩ nên nêu ra đâu dám bỏ phế, vậy nên giao cho quan câu đương mỗi người 6 quan để biện cỗ. Tháng 2 quan câu đương làm cỗ Thượng nguyên, tháng 8 quan câu đương làm cỗ Trung thu. Đến ngày tế đinh chiểu theo số tiền lãi mà trao trả cho đủ.

Điều 28: Hễ có việc cưới xin, chủ hôn phải trình báo để cho chánh thứ văn trưởng đối chất, sau đó trình cho lý trưởng xin phép được đến đình đánh trống làm hiệu. Xong xin được lễ trong đình gồm 1 hộp trầu 10 miếng, lễ xong biếu chánh văn trưởng 5 miếng, biếu thứ văn trưởng 5 miếng. Ngoài ra còn phải lễ các quan tả hữu 1 hộp trầu cau gồm 100 miếng, 1 nải rượu. Nếu có viên mục nào cùng đến thì cùng ăn uống. Rượu đem biếu lý trưởng. Số trầu cau giao cho chủ hôn chiểu theo số người trong hội tư văn mà chia đều. Còn số tiền lan giai 1 quan 8 mạch giao cho chủ hôn đến nhận giữ. Đến kỳ tế đinh vào mùa xuân, giao số tiền này cho quan câu đương biện lễ mà không được giao cho ai khác. Những tục cũ này xin được ghi lại làm lệ.

Quan trưởng Tú tài Nguyễn Duy Tiễn phụng chép.


Quy định về đồ lễ của các kì tế trong năm

Điều 21: Ngày 26 tháng 2 năm Tự Đức (1864) toàn hội lại định ra: trước 10 ngày của 2 kỳ tế đinh xuân thu hàng năm hội cùng thu tiền tức giao cho quan câu đương mua lợn rượu và gạo tổng cộng hết 10 quan tiền. Nay ghi lại, ngày lễ cáo yết và ngày lễ chính tiền mua gạo, rượu cả thảy là 15 quan tiền chi dùng đủ.

Nay lại định lại.

Điều 22: Ngày mồng 2 tháng 8 năm Tự Đức 25 (1871) hội tư văn cùng hội họp định ra 1 khoản: Lễ cầu phúc hàng năm vào tháng 8 và tháng 12, mọi người trong hội tư văn sắm sửa đồ lễ để cúng các phẩm quả đều như nguyên ngạch. Duy các lễ vật ngoài đình theo như quy định, giao cho các quan viên biện lễ mỗi người biện 1 con lợn nguyên. Những người dự thi hương đều biện lễ 8 quan tiền chì. Mỗi lễ 8 giáp chi dùng hết 4 quan tiền và giao cho các quan viên thay nhau biện lễ. Ngày lễ xem xét, cỗ bàn trừ rượu và cơm phải lo cho đủ, mỗi mâm 1 quan tiền chì. Ăn không hết chia đều không được lấy lẫn. Bắt đầu từ tháng 8 năm Tân Mùi, vào 2 kỳ cầu phúc, tám giáp cùng chi tiền để biện lễ. Mỗi giáp dâng 1 hũ rượu: giáp lớn thì hũ rượu 4 mạch tiền, giáp nhỏ thì hũ 2 mạch; trầu cau mỗi giáp một hộp 10 miếng cau.

Nay định ra.

Quy định về đồ lễ của các kì tế trong năm

Văn trưởng Tú tài Nguyễn Duy Tiễn ký.

Điều 23: Ngày 22 tháng 8 năm Tự Đức 28 (1875) hội tư văn cùng hội họp để lập thêm các điều ngạch bổ sung. Các điều ngạch được ghi ở sau:

Hàng năm bốn người thủ quỹ, hội tư văn sẽ trả lại cho họ số tiền lan giai, mỗi người 1 quan 8 mạch, đã có điều lệ định rõ ở trên. Sau đó lại trả thêm cho mỗi người 1 quan 2 mạch tiền. Tổng cộng mỗi người được trả lại 3 quan. Số tiền này chưa được ghi lại, nay theo đó mà ghi lại làm điều ước chung.

Điều 24: Số ruộng tự điền của 2 vụ chiêm và vụ hè do các bậc tiền bối để lại là 1 mẫu 6 sào 2 khẩu 3 ngũ tại địa phận bản xã. Lại ruộng khuê điền trong các phủ miếu vũ tại xã Cống Xuyên gồm 8 sào chia đều làm 4 phần. Việc biện lễ oản quả, mỗi phần một năm phải biện 80 phẩm oản cũng như vậy và đã được ghi ở trên. Ruộng khuê điền trong các phủ miếu giao cho bản phủ để định lại: mỗi phần phải biện 46 phẩm một năm chia cho 2 kỳ tế lễ, hoa quả tăng gấp đôi; điều này chưa được ghi lại làm lệ. Nay định chuẩn mỗi phần phải biện 60 phẩm oản 1 năm, hoa quả cũng biện giống trên. Số oản quả này chia làm 2 kỳ lễ, mỗi phần phải biện 10 phẩm oản vào ngày cáo lễ và 20 phẩm vào ngày lễ chính. Tổng cộng 30 phẩm. Lấy đó để thể hiện hậu ý.



Từ khóa tìm kiếm nhiều: le hoi lang

Quy định của hội tư văn về các đồ dâng lễ

Điều 15: Các đồ dâng lễ chưa được ghi rõ. Nay xin kê lại: bánh dày mỗi mâm 100 cái, bánh lá cũng vậy, còn bánh trôi, bánh chưng đều được bày lên. Trong mâm còn có 50 bát 30 đĩa, còn việc bày thành bao nhiêu tầng thì không quy định.

Điều 16: Ngày tế đinh tháng 8 năm Thiệu Trị 2 (1842) cùng hỏi họp bàn luận, trong đó có 1 điều báo tế minh thần, xin vâng chịu các quy định của tiền bối. Số tiền lan giai của cả xã, hàng năm thu được bao nhiêu đều giao cho bốn người giữ. Việc sắm đồ tế lễ, số tiền không kể ít nhiều đều phải sắm cho đầy đủ. Nay lại bàn bạc phân việc sắm đổ lễ hàng năm cho bốn người, mỗi người 6 quan. Số tiền lan giai chia cho trong năm đó, nếu đủ thì miễn bàn, nhưng nếu số tiền đó thừa thì giữ lại cho 2 kỳ tế đinh. Nếu số tiền lan giai chia cho năm đó thiếu thì chiểu theo sổ hương ẩm của giáp mà thu.

Nay cùng thỏa thuận và ghi lại.

Điều 17: Ngày 15 tháng 8 năm Thiệu Trị 4 (1844) hội đổng cùng hội họp định ra các khoản. Ai sửa đồ lễ phải tăng thêm số gạo thịt. Mỗi thứ được nấu bằng nồi đồng mười. Con cháu sau này cứ thế mà làm theo, nay định rõ. Hàng năm ngày ca hát khi lễ vào đám, ngày lễ Thượng nguyên tháng giêng ai biện 2 mâm cỗ dùng khi lễ xong cũng phải biện đủ thịt nướng, cơm như trên.

Nay lại định lại.

Quy định của hội tư văn về các đồ dâng lễ

Điều 18: Ngày tháng 8 năm Bính Ngọ lại định lại.

Lễ cáo yết khi tế đinh, mỗi phần ruộng được chia phải sửa thêm 5 phẩm oản. Ngày lễ chính sửa thêm 10 phẩm cũng như vậy.

Nay lại định lại.

Hội tư văn cùng y theo.

Điều 19: Ngày tháng 2 năm Tự Đức 2 (1849) lại định lại các điều. Hàng năm ngày lễ chính được tổ chức tại đình, lễ xong đều đến để bái vọng để thể hiện sự cung kính. Đèn hương 3 ngày do thủ từ lo liệu. Biện lễ gồm 1 mâm 10 phẩm oản, 1 con gà, 1 bình rượu, 1 hộp trầu cau đáng giá 1 quan 2 mạch tiền. Hàng năm ngày 22 tháng 12 nộp tiền cho 4 phần ruộng canh tác, mỗi phần 3 mạch tiền. Chuẩn theo số thu được giao nộp cho thủ từ. Cứ theo đó mà làm thành quy thức vĩnh viễn.

Nay ghi lại.

Hội tư văn cùng y theo.

Điều 20: Ngày mồng một tháng 12 năm Tự Đức nguyên niên (1848) hội tư văn cùng hội họp bàn luận. Lại định rõ 1 khoản. Hàng năm vào 2 kỳ tế vào tháng 8 và tháng 12, các đồ tế phải thật thanh khiết. Còn như các mâm cỗ chay, cỗ mặn số bát đũa nhiều ít ra sao hoặc thêm bớt thế nào đều theo lệ cũ. Các oản quả trầu rượu phải dâng lễ trước 1 ngày để xem xét. Hàng năm cỗ bàn trong ngày lễ thượng nguyên cũng bãi bỏ cho bớt tốn kém. Tiền lan giai mỗi người từ 1 quan đến 8 quan tùy theo giàu nghèo, số tiền này được thu vào dịp năm mới.

Nay ghi lại.

Toàn hội tư văn cùng thuận theo



Từ khóa tìm kiếm nhiều: le hoi viet nam

Lệ làng về các phàm đồ cúng lễ trong các lễ tiết

     Điều 11: Phàm đồ cúng lễ lấy thành tâm, trai tịnh làm gốc. Nói rằng hãy nhận lấy lòng thành này, nói rằng hãy dâng cúng các đồ thơm tho lên và nói rằng hãy làm cho thời tiết thuận hòa. Cái gì ở dưới thì nên để dưới. Lại nói rằng nhiều cũng quý mà ít cũng quý, hình thức cũng quý mà nội dung cũng quý. Phàm ở núi thì lấy cá tôm làm lễ, ở ao đầm thì lấy hươu nai, lợn bò làm lễ ấy là lễ vậy.

     Há cần gì sơn hào hải vị, có sao cúng vậy cốt sao các vật dâng lễ được trang trọng đẹp đẽ. Đó là lễ vậy. Lễ cốt ở chỗ cho thật đứng, đồ lễ chay tịnh, lòng thành thật đó là quý và đẹp vậy. Các đồ cúng lễ dâng lên đình. Các mâm cỗ mâm nào cũng chất đầy đồ cúng từ dưới mâm lên đến đỉnh cả thảy là 9 tầng, nào là 50 bát, 30 đĩa, các sơn hào hải vị thật là thanh khiết, 100 phẩm oản đều như vậy. Lễ dâng hai bên tả hữu đình chất đầy 30 bát, 30 dĩa hoặc là các sơn hào hải vị, hoặc là đồ thịt cá, các món đều nhiều và ngon, trầu cau rượu chè, trầu mỗi mâm 1 hộp, rượu mỗi mâm một nậm, trầu cau mỗi mâm 1 hộp (tổng cộng 100 khẩu), rượu mỗi mâm 1 chén. Ngoài ra, khi lễ xong chiểu theo các hạng mà bãi hổi, còn những người lo việc mâm bát thờ cúng thì đến nhà lý trưởng lănh phần biếu. Sự việc xong xuôi, chiểu theo số người mà đến nhà lý trưởng nhận phần. Những người vắng mặt chủ sự sẽ nhận đền cho. Tháng 12 làm lễ dâng lên miếu cũng như vậy.

Lệ làng về các phàm đồ cúng lễ trong các lễ tiết

Điều 12: Những người chủ làm lễ nguyên có tế vọng quan giám đàn thần. Trước một ngày toàn hội tề tựu xem xét các khoản để nhận thực tình.

Điều 13: Các ngày tế lễ, khi hành lễ nghe 1 hồi 9 tiếng trống thì mọi người đều phải tề chỉnh áo mũ, làm mọi việc thật trang nghiêm để thể hiện ra sự tôn nghiêm, kính cẩn. Các đồ biếu đều tuân theo nguyên ngạch.

     Trong hội mọi người đều phải ngồi theo thứ bậc, trước nhất là các bậc chức sắc và những người đã dự ngạch khoa trường, sau đó là các quan sai, lý dịch và những người giúp việc làng và cuối cùng là những người được miễn sưu thuế. Không được nằm ngồi lộn xộn để thể hiện rõ điều lễ.

Điều 14: Các lý dịch trong làng cứ 3 năm nên dự kỳ tuyển, hễ có thực tài thì được làm. Khi đã được tuyển, thì các việc tạp dịch trong bản xã đều được miễn. Các tập tục xưa chưa được ghi lại nay xin tuân theo để cho phong hóa được đầy đặn.

Các điều khoản về việc thờ tự của tiền bối đặt ra gồm 6 điều và 1 điều về tiền khao vọng, 1 điều về tiền vốn cùng 4 điều về việc hiếu, tổng cộng 12 điều, đều đặt trong nguyên ngạch năm Cảnh Thịnh 8 (1800).

Nay xin tuân theo để làm rõ các điển chương.



Từ khóa tìm kiếm nhiều: lễ hội việt nam

Chi tiết các phần đất được chia cho các xứ

    Phần thứ nhất: Chín khẩu ở xứ Vườn Dù; xứ Đồng Sai gồm 7 khẩu 4 ngũ 2 thước 5 thốn; xứ Công Đường: 6 khẩu 2 ngũ; ruộng vụ chiêm ở xứ Phân Gia gồm 1 sào, 5 khẩu; ruộng khuê điền ở các phủ miếu cũ ở xã Cống Xuyên, ruộng ở phía trong phủ cũ gồm 2 sào, tổng cộng 2 sào 7 khẩu 6 ngũ 2 thước 5 tấc.

    Phần thứ hai: xứ Vườn Dù: 9 khẩu, xứ Đồng Sai: 7 khẩu 4 ngũ 5 thước 5 tấc; xứ Công Đường: 6 khẩu 2 ngũ, ruộng vụ chiêm ở xứ Phân Gia, 1 sào 5 khẩu, ruộng Khuê điển ở các phủ miếu cũ tại xã Cống Xuyên ruộng ở phía trong phủ cũ gồm 2 sào, tổng cộng 5 sào 7 khẩu 6 ngũ 2 thước và 5 tấc.

    Phần thứ ba: Xứ Vườn Dù 9 khẩu; xứ Đình Năng 7 khẩu xứ Công Đường, 6 khẩu 2 ngũ; lại ruộng khuê điền ở các phủ miếu cũ tại xà Cống Xuyên và ruộng ở phía trong phủ cũ gồm 2 sào, lại ruộng vụ chiêm ở xứ Phân Gia gồm 1 sào 5 khẩu, tổng cộng 5 sào 7 khẩu 2 ngũ.

    Phần thứ tư: Xứ Đường con cá: gồm 1 sào, xứ Vườn Dù: 4 khẩu 6 ngũ, xứ Công Đường 6 khẩu 2 ngũ; ruộng vụ chiêm ở xứ Phân Gia gồm 1 sào 5 khẩu, lại ruộng khuê điền của các phủ miếu cũ ở xà Cống Xuyên và ruộng ở phía trong phủ cũ 2 sào. Tổng cộng 5 sào 5 khẩu 8 ngũ.

Chi tiết các phần đất được chia cho các xứ

    Bốn phần trên cùng luân phiên canh tác đổ biện oản quá lễ tế hàng năm 4 người lần lượt đem dâng biếu quà cho người chủ lễ. Cứ lần lượt làm như vậy mới khỏi sự tranh chấp. Việc nhận phần canh tác thì năm Nhâm Dần mới bắt đầu. Còn như các hạng tô thuế toàn xã cùng chịu.

Điều 7: Những người trông giữ từ chỉ hàng năm vào 2 kỳ tế xuân thu đều cho một mâm cỗ.

Điều 8: Những người giữ sổ sách hội tư văn, vào 2 kỳ tế đinh hàng năm đều được biếu y như người làm lễ. Những người bất cẩn cũng có điều lệ đinh.

Điều 9: Vào 2 kỳ tế đinh hàng năm và các ngày lễ tiết, các lệnh cai trọng 8 giáp, xóm trưởng các xóm đều nghe theo sự sai bảo cắt cử của toàn hội cốt để làm rõ mạch văn.

Điều 10: Làm lễ báo cho minh thần.

    Các kỳ cầu lễ vào dịp trọng thu và quý đông đều do các bậc tiền bối định ra. Năm đó, số tiền lan giai bao nhiêu đến ngày lễ Thượng nguyên hội tư văn cùng chiểu theo mà thu, giao cho 4 người đó để đi biếu quà. Người chủ lễ sẽ nhận số tiến đó rồi làm lễ dâng lên đình, miếu. Hễ ngày 12 tháng 8, hai người làm lễ kính dâng lên đình. Ngày 1 tháng 12, hai người làm lễ kính dâng lên miếu. Còn như số tiền thu được hàng năm ít nhiều ra sao, tùy theo từng năm mà chia, không định riêng. Nay xin tuân theo những điều quy định của các bậc tiền bối.


Điều lễ thờ cúng của xã Ba Lăng tổng Đông Cứu huyện Thượng Phúc

     Còn Hội Tư văn xã Ba Lăng tổng Đông Cứu huyện Thượng Phúc phủ Thường Tín tỉnh Hà Nội, thiết nghĩ: hội lấy văn làm tên cũng nên nhìn lại cái mà suy ngẫm. Còn như văn hội làng nào thì có phong hóa của làng đó. Nếu chỉ nhìn, nghe một cách thoảng qua thì thấy mọi sự một cách thoáng lướt. Phong hóa đề ra và dẫn dắt con người. Những người nghe và nhìn thấy thì theo đó mà làm, đó là một điều lễ nghĩa vậy. Điều lễ nghĩa đó là sự kính trọng và hài hòa mà thôi chứ không phải ở việc sùng bái tế lễ.

     Bậc tiên triết làm lễ báo minh thần biết. Có đề ra và dẫn dắt thì sẽ có người bắt chước làm theo. Cũng dễ vậy. Hội tư văn không chỉ là phong hóa của một làng mà còn là phong cách chung của một thời. Kính trọng mà đem đến, thực hiện một cách hài hòa. Lễ nghĩa chính là ở điều đó vậy, biết nếu ra và dẫn dắt, biết bắt chước theo cũng làở chỗ đó. Đó là một điều lễ nghĩa. Dừng lại ở điều nghĩa thì hội văn sẽ được mọi người tin theo. Không theo những lời phù phiếm, bèn ghi lại mấy lời để điều hòa mọi sự việc. Bèn ghi lại như sau:

Điều lễ thờ cúng của xã Ba Lăng tổng Đông Cứu huyện Thượng Phúc

Điều 1: Thờ cúng các bậc tiên triết. Vào 2 kỳ tế xuân thu có số ruộng thu hạ điển và tiền vốn giữ lại để thờ tự, từ năm trước toàn hội cùng sửa lễ.

Điều 2: Từ chỉ phủ miếu, cựu quán, chính đàn thì thờ tiên thánh, 4 đàn 2 bên tả hữu thì thờ tứ phối, 2 đàn tả hữu phía ngoài thập triết thì thờ tiên hiền, hậu hiền. Đây không phải là điều gì mới vẫn chỉ là những điều cũ. Lễ nghi không thể không to. Đến ngày lễ chính (tháng 2 dùng ngày hạ đinh, tháng tám dùng ngày trung đinh) viên câu đương sắm sửa lễ vật, sai người nhà và các lệnh cai của 8 giáp bày biện cho thật trang trọng, thanh khiết, cùng mọi người áo quần tề chỉnh để cáo lễ. Nếu có lý do phải vắng mặt cho phép dùng trầu cau để cáo khiếm; yết lễ xong thì ở lại, chờ đến khi hành lễ chính. Xóm trưởng của 6 xóm ngày hôm đó phải cử các trai tráng cùng đuốc gậy để bảo vệ, thể hiện sự nghiêm túc.

Điều 3: Việc bày biện các đồ tế khí cùng đèn hương trầu nước nhờ người giữ đền (thủ từ).

Điều 4: Việc đọc chúc văn, làm chủ tế cũng nhờ thủ từ.

Điều 5: Chức câu đương thay phiên nhau làm, đều lấy hạn là nửa năm 1 làn.

Giao cho cả hội số tiền lãi, trước 10 ngày bản hội cùng hội họp các viên câu đương chiểu theo số tiền lãi mà sửa lễ cho kịp. Nếu người nào thiếu bản hội sẽ kê số người đó và lãnh số tiền khác giao cho câu đương để cho nó tiếp tục sinh lợi mỗi ngày mấy văn tiền. Căn cứ vào số thu của người thiếu để nộp nguyên số tiền thiếu đó.

Điều 6: Số ruộng thu hạ điền của tổ tiên để lại tổng cộng các thửa ruộng là 1 mẫu 6 sào hai khẩu 3 ngũ ở địa phận của bản xã, ruộng khuôn điền ở các phủ miếu cũ là 1 thửa tổng cộng 8 sào tại địa phận xã Cống Xuyên. Nay chia đều làm 4 phần để luân phiên cày cấy. Mỗi phần một năm phải biện 50 phẩm oản quả. Hễ ngày tế đinh xuân thu hàng năm, mỗi lễ mỗi phần 25 phẩm, đều dùng lúa gạo tốt, người nào làm tốt nhất thì thưởng 2 phẩm, người thứ hai thưởng 1 phẩm. Việc sửa oản quả cho ngày cáo lễ mỗi phần là 10 phẩm, ngày lễ chính mỗi phần 15 phẩm. Nếu gạo dùng không ngon mà dùng gạo khác phải có hội đồng xác thực.



Từ khóa tìm kiếm nhiều: hương ước là gì

Khế ước, văn khế về việc chuyển giao, bán ruộng đất

     Điều 21: Ngày 19 tháng 11 năm Bính Tý, cựu xã trưởng Nguyễn Đình l âm giao sổ bạ của hội tư văn gồm tổng cộng 30 trang.

     Điều 22: Bà Vũ Thị Thịnh người xã Ba Lăng tổng Đông Cứu huyện Thượng Phúc phủ Thường Tín do túng thiếu, bà có số ruộng được chia tại dịu phạn xứ Phan La gồm 1 thửa 2 sào 5 khẩu phía đông gần ruộng của Đỗ công Gia. Phía Tây gồm ruộng của Nguyễn Đăng Hiếu, đông tây tứ bề y như trong ruộng. Theo thời gian số ruộng này đáng giá 9 quan 5 mạch tiền cổ. Nay bán đứt cho Vũ Hữu Nho, Nguyễn Duy Tuấn, Vũ Nguyễn Hằng, Võ Bá Thần trong hội tư văn. Hội tư văn cùng bàn bạc lập khoán ước giao nộp đầy đủ để xin lấy số ruộng bán đứt trên. Tờ khoán giao cho bà Vũ Thị Thịnh đô lấy ruộng. Nếu như có việc sai trái không rõ ràng, người có đất chịu trách nhiệm mà không can hệ gì đến người mua. Theo khoán ước hội tư Văn dùng làm ruộng công mà canh tác. Nước có phép nước, vậy lập văn khế để mọi người chiểu theo đó mà làm.

Khế ước, văn khế về việc chuyển giao, bán ruộng đất

Lập văn khế ngày 25 tháng 5 năm Cảnh Thịnh 8 (1800)

Vũ Thị Thịnh điểm chỉ

Viết văn khế: Nguyễn Văn Kha ký

     Điều 23: Nguyễn Đình Toán (tức Nhiêu Toán) cùng vợ, người xã Ba Lăng tổng Đông Cứu, huyện Thượng Phúc, phủ Thường Tín, do thiếu tiền lo việc sưu dịch, nay có số ruộng được chia gồm 1 sào 5 khẩu nằm ở xứ Đồng Sai. Phía đông gần ruộng của ThếLớn, phía bắc gần ruộng Kim ích. Đông tây tứ bề y như trong ruộng. Nay đem bán đứt cho Vũ Hữu Nho, Nguyễn Đinh Duyên, Vũ Bá Tín, Vũ Bá Tự, Vũ Bá Tráng, Nguyễn Đình Tính, Nguyễn Duy Hài trong hội tư văn của bản xã. Theo thời giá, ruộng trị giá 5 quan tiền cổ. Số tiền này trừ vào việc mua chức xã nhiêu, số còn lại giao cho ThếToán để xin lấy ruộng. Nếu như có việc sai trái không rõ ràng, người có đất chịu trách nhiệm mà không can hệ gì đến người mua. Theo khế ước, hội tư văn lấy đó làm ruộng công mà canh tác. Nước có phép nước, nay lập tờ khế để mọi người theo đó mà làm.

Lập văn khế ngày 16 tháng 2 năm Gia Long 11 (1812)

Nguyễn Đình Toán ký.

Viết văn khế: Nguyễn Đình Bính ký.

     Điều 24: Nguyễn Kim ích, người xã Ba Lăng tổng Đông Cứu huyện Thượng Phúc phủ Thường Tín cùng vợ, do thiếu tiền chi dùng, nay bán số ruộng được chia nằm ở Vườn Dù gồm 3 sào 8 khẩu 5 thốn. Phía đông gần ruộng của Nguyễn Duy Chiểu, phía tây gần ruộng của Nguyễn Đình Bể, phía nam gần ông Sứ, bắc gần ruộng của Cai Ngâm. Nay đem bán đứt số ruộng cho các quan viên chức sắc trong hội tư văn của bản xã: Ông Vũ Hữu Nho, Nguyễn Đình Duy, Vũ Bá Lăng, Vũ Bá Tự, Vũ Bá Tín, Vũ Bá Tráng, Nguyễn Đình Thuyên, Nguyên Hữu Xuân. Hội tư văn định giá theo thời giá là 15 quan 4 mạch tiền cổ. Căn cứ vào ngày lập khế ước mà trừ đi 10 quan tiền mua chức xã nhiêu và 2 quan tiền mua chức đương cai. Số còn lại giao nộp đủ để xin lấy số ruộng bán đứt trên. Giao tờ khế ước cho Nguyễn Kim ích để lấy ruộng. Nếu như có việc sai trái không rõ ràng, người có đất chịu trách nhiệm mà không can hệ gì đến người mua. Theo đó mà lập khoán ước và nhận phần canh tác truyền lại cho con cháu làm ruộng tư văn. Nước có phép nước vậy nên lập văn khế để mọi người theo đó mà sử dụng.

Lập văn khế ngày 10 tháng 2 năm Gia Long 11 (1812)

Nguyễn Kim ích ký.

Tổng cộng các tờ văn khế và giao ước trên đây là 11 bản, gồm 4 mẫu 2 sào 7 thốn 1 thước 7 tấc ruộng.

Có đính kèm 1 bức văn khế ở sau và 6 bức văn khế đời Gia Long kèm ở trên.



Từ khóa tìm kiếm nhiều: tuc le lang

Quy định về việc tính lại ruộng cũ và mới

Điều 16: Năm Nhâm Thân số ruộng chia đều từ cụ cựu trở xuống chiếu theo tuổi tác mà được trước. Ngày tháng 2 năm Minh Mệnh 20 (1839) tính lại số ruộng cũ và mới trừ số ruộng phụ canh gồm 2 thửa tại xứ Vĩnh Mộ, chỉ còn lại số ruộng cho vụ chiêm và vụ mùa gồm 1 mẫu 6 sào 2 khẩu 3 thốn.

Nay ghi lại.

Điều 17: Năm Ất Dậu định việc bán 10 chức quan đương cai, mỗi người giá 2 quan tiền cổ để làm vốn.

Quy định về việc tính lại ruộng cũ và mới

Nay kê lại.

     Việc thờ hậu mỗi người cày ruộng sửa lễ gồm có gạo oản ngon, nếu ai làm trái sẽ định lệ phạt 1 quan 2 mạch tiền cổ. Lên danh sách những việc cần trợ giúp, những người có việc hiếu việc hỷ trong hội tư văn.

Điều 18: Ngày tế đinh mùa thu năm Bính Tuất ghi lại tiền vốn cũ và mới được 94 quan 2 mạch 48 văn tiền, hội tư văn cứ theo đó ghi vào sổ ghi tiền vốn của năm Bính Tuất. Các điều trên đều ghi lại trong sổ gốc của hội tư văn. Lâu ngày nét chữ bị mờ đi e rằng có kẻ xấu bụng sẽ làm hỏng mất, do vậy hội sẽ sao chép lại như gốc để cho cho cháu sau này theo đó mà làm thành lệ.

     Tú tài Nguyễn Bá Phát sao chép, Cai tổng Vũ Bá Mạo, Vũ Bá Ngũ… Các điều ngạch này Vũ Bá Kiểm cùng toàn hội tư văn chuẩn y ghi lại.

Điều 19: Ngày 24 tháng 9 năm Minh Mệnh 13 (1832).

Thân định điều khoản.

     Ngày tế chính của 2 kỳ tế đinh, hội tư văn mũ áo tề chỉnh túc trực suốt đêm cho đến khi hành lễ. Nếu ai làm thiếu sót sẽ bị phạt như điều ngạch chính.

     Tháng 9 năm Nhâm Thìn hội tư văn kê định số ngạch gốc, ruộng mùa thu gồm 5 phần, thu lấy tiền mỗi phần là 1 quan 2 mạch trong l năm. Nay theo đó mà thu được 6 mạch tiền cổ 1 năm.

     Người nào từ chức câu đương cho đến thôn trưởng thụ lấy số tiền lãi giao cho viên câu đương đủ số tiền để sắm lễ vật làm lễ. Đến ngày lễ chính cũng nên cùng quan câu đương sửa lễ gồm trâu bò (súc vật dùng để tế). Những người giúp việc tế lễ được biếu 1 đầu (trâu bò) quan câu đương được nhận 1, viên lý khán được nhận 1; chân lợn cũng biếu như vậy.

     Cai tổng Vũ Bá Mạo, Đội trưởng Nguyễn Phương, Lý trương Nguyễn Hữu Lạp chuẩn y.

Điều 20: Ngày 26 tháng 8 năm Nhâm Ngọ, quan huấn viên giao cho hội tu văn sổ sách cùng văn tự tổng cộng 25 trang và 1 trang ghi việc biện lễ trả đinh vào mùa thu năm đó. 8 trang khoản ngạch có chữ, 6 trang văn tự bán mua đất, 3 trang ghi ruộng tu văn ở cấp thửa ruộng, 5 trang sổ bạ ghi tiền vốn năm Giáp Tuất, 1 sổ bạ mới ghi việc trợ giúp gồm 4 trang.



Từ khóa tìm kiếm nhiều: tục lệ làng

Quy định về ghi chép số ruộng công và mới của hội tư văn

Điều 15:

     Kỳ tế mùa xuân tháng 2 năm Nhâm Thân ghi chép số ruộng công cũ và mới của hội tư văn được bao nhiêu thửa, chiểu theo số ruộng đó chia đéu làm 5 phấn: mỗi phần bao nhiêu, định thu tiền mỗi mùa là bao nhiêu, thu bao nhiôu gạo… tất thảy đều ghi rõ ở sau.- Một thửa 2 sào 5 khẩu tại xứ Cung Đường. Ruộng này, cả năm lấy 60 phẩm oán chia cho 2 kỳ tế lễ xuân thu; mỗi kỳ lấy 30 phẩm để cúng. Nay lại đặt lộ thu oản cả năm mỗi sào là 20 phẩm cộng 50 phẩm chia đều cho 2 kỳ tế.

Nay ghi lại.

- Một thửa 1 sào 3 khẩu 1 thốn 3 thước tại xứ Đồng Vĩnh

- Một thửa 1 sào 2 khẩu 4 thốn 4 thước tại xứ Đồng My.

- Hai thừa ruộng tại xứ Đổng Vĩnh định thu oản y như ở xứ Cung Đường.

- Một thửa 7 khẩu tại xứ Đình Năng. Nay định thu oản là 14 phẩm.

- Một thửa 6 sào tại xứ Phân La, lấy 2 sào 5 khẩu cả năm thu lấy gạo mỗi sào là 20 bát tổng cộng 50 bát chia đều cho 2 kỳ tế lễ chiểu nộp cho quan câu đương để biện lễ. Còn lại 3 sào 5 khẩu thu lấy oản, cả năm mỗi sào 20 phẩm, tổng cộng 70 phẩm chia đều cho 2 kỳ tế mỗi kỳ tế là 35 phẩm.

Quy định về ghi chép số ruộng công và mới của hội tư văn

Nay ghi lại.

Tổng cộng: 1 mẫu 1 sào 7 khẩu 6 thốn 1 thước. Số ruộng mới gồm:

- Một thửa ở xứ Viên Phàm gồm 4 khẩu 6 thốn chia 3 và định thu oản.

- Một thửa 3 sào 8 khẩu 6 thốn ở xứ ấy

- Một thửa 1 sào 2 khẩu ở xứ Đường Con Cá.

- Một thửa 1 sào 5 khẩu xứ Đồng Sai. Nay thu lấy 30 bát gạo trong cả năm, đều là gạo tốt, chia đều số gạo trên cho 2 kỳ tế. Nay ghi lại ở trên tổng cộng 6 sào 8 khẩu 3.

     Ở trên, tổng cộng số ruộng cũ, ruộng vụ chiêm là 1 mẫu, 2 sào 6 khẩu 1 thước, đã trừ thửa ruộng ở xứ Cung Đường và 2 thửa ở xứ Đồng Vĩnh thu lấy oản; Chỉ còn lại 7 sào 5 khẩu 3 thốn và 6 sào ruộng vụ mùa, tất cả chia đều làm 5 phần, mỗi phán hao nhiêu đều ghi rõ ở sau:

- 1 phần ở xứ Vườn Dù gổm 4 khẩu 6 thốn, ở xứ đó 9 khẩu 6, hàng năm thu lấy 28 phẩm oán chia đều cho 2 kỳ tế lễ, mỗi kỳ 14 phẩm oản cũng giống như dưới đây: Ruộng hạ điền gồm 1 sào 5 khẩu ở xứ Phân La, định lấy tiền cả năm là 1 quan 2 mạch tiền cổ chi dùng cho lễ hạ điền cả năm là 6 mạch.

- Một phần ở xứ Vườn Dù gổm 9 khẩu 6 thốn và 5 khẩu ở xứ Đồng Sai thu lấy 20 phẩm oản chia đều cho 2 kỳ tế lễ.

     Ruộng hạ điền gồm 1 sào 5 khẩu ở xứ Phân La, định lấy tiền cả năm là 1 quan 2 mạch tiền cổ, chỉ dùng cho lễ hạ điền một năm là 6 mạch.

- Một phần ở  xứ Vườn Dù gồm 9 khẩu 6 thốn và 5 khẩu ở xứ Đồng Sai; thu lấy oản cả năm là 20 phẩm chia đều cho 2 kỳ tế lễ.

     Ruộng hạ điền gồm 1 sào 7 khẩu ở xứ Phân La, định thu lấy tiền cả năm là 1 quan 2 mạch tiền cổ, chi dùng cho lễ hạ điền 1 năm là 6 mạch tiền.

- Một phần 9 khẩu 6 thốn ở xứ Vườn Dù và 5 khẩu xứ Đồng Sai thu lấy oản cả năm là 20 phẩm và chia đều cho 2 kỳ tế, ruộng hạ điền 1 sào 5 khẩu ở xứ Phân La, định thu lấy tiền cả năm là 1 quan 2 mạch tiền cổ, lại thu cho lễ hạ điền một năm 6 mạch.

- Một phần: 1 sào ở xứ Đường Con Cá, và 7 khẩu ở xứ Đình Năng; thu lấy oản một năm là 34 phẩm chia đều cho 2 kỳ tế, định thu lấy tiền 1 quan 3 mạch 36 văn tiền cổ trong 1 năm.

     Tổng cộng số oản thu được cả năm là 222 phẩm, trừ 50 phẩm cho cáo lễ, còn lại 172 phẩm dùng cho lễ chính.


Quy định về việc làm lễ và đóng góp của các đối tượng trong làng

Điều 8: Ngày tiên thường và ngày tế ngư, các mâm cỗ chiểu theo số người ở hội tư văn, mỗi mâm 4 người, lễ thày 1 mâm.

Điều 9: Việc báo hiếu trước và sau khi chôn cất với số tiền là 1 mạch. Các cỗ bàn trợ tế cùng thủ lợn, đầu trâu bò đều được bày tại hội tư văn.

Điều 10: Hễ có khao vọng nhập hội tư văn, người tham dự là những người đỗ đạt và xã trưởng. Số tiền khao vọng là 1 quan 8 mạch tiền cổ, ngoài ra có thể thêm tiền khao vọng 6 quan tiền cổ.

Quy định về việc làm lễ và đóng góp của các đối tượng trong làng

Điều 11: Mọi người trong hội tư văn ưng thuận bỏ ra mỗi người 1 quan tiền vốn.

      Nho sinh Vũ Bá Nho: 1 quan, Vũ Bá Lăng 1 quan.

    Thiếu khanh Vũ Duy Tuấn 1 quan, vo Bá Tự 1 quan. Nho Nguyễn Trị, Nguyễn Đình Bỉnh, Vũ Bá Thân, Nguyên Dinh Thuyên ;, trưởng Nguyễn Đình Duyên, Nguyễn Dăng Dao…

    Tổng cộng 25 quan tiền cổ.

    Ngày mùa thu năm Canh Thân số tiền còn lại là 5 mạch 36 văn tiền eổ,

Điều 12: Các thửa ruộng hội tư văn được kê dưới đây.

- Một thửa xứ Cung Đường 2 sào 5 khẩu. Một thửa xứ Đình Năng 7 khẩu.

- Một thửa xứ Vĩnh Mộ, Đồng My gồm 1 sào, 3 khẩu 1 thốn 2 thước, Ruộng xứ Y Nhị trước đây đã giao trả về cho bản xã cày cấy và được ghi trong địa bàn của xã.

- Một thửa 6 sào tại xứ Phân La.

     Tổng cộng số ruộng là 1 mẫu 1 sào 7 khẩu 6 thước 1 thước dùng vào hai kỳ lễ tế xuân thu hàng năm. Mỗi tiết mỗi sào 35 phẩm, tổng cộng 100 phẩm oản gạo. Mỗi kỳ 15 bát còn thừa lại tùy theo thời giá mà nộp tiền. Số ruộng này giao cho xã trưởng trồng cấy, nếu ruộng bỏ hoang sẽ thu vào ruộng của xã trưởng.

Điều 13: Hội tư văn ưng thuận mỗi người bỏ ra 1 quan tiền cổ, tổng cộng được 25 quan dùng làm tiền vốn cho hội tư văn. Cả năm 4 mạch tiền chi dùng cho 2 kỳ tế lễ, mỗi lễ là 2 mạch. Sau này, những người bỏ tiên vốn ra không được truy hỏi về số tiền còn lại.

Ngày 11 tháng 2 năm Cảnh Thịnh 8 (1800)

Nho sinh Vũ Nguyễn Trị ký

Vũ Bá Thân ký

Nguyễn Đăng Dao ký.



Từ khóa tìm kiếm nhiều: le hoi lang

7 điều đầu tiên trong mục lục sổ tư văn xã Ba Lăng.

-   Sổ ngạch gốc 1 bản 8 trang

-    Văn khế các thửa ruộng 8 trang, văn tự bản sao 1 trang

-    Các điều ngạch phân canh ruộng công mới và cũ: 1 bản 3 trang.

-   Sổ ghi tiền vốn năm Kỷ Mão 7 trang

-  Sổ ghi tiền vốn năm Bính Tuất 5 trang

-  Sổ ghi tiền vốn thực từ năm Bính Tuất 5 trang

-   Tờ ngạch nói vể việc mua chức đương cai và định thêm các điều ngạch: 4 trang. Tờ ngạch nói về viộc trợ giúp gồm 2 bản tổng cộng 5 trang.

      Toàn Hội Tư văn xã Ba Lăng tổng Đông Cứu huyện Thượng Phúc phủ Thường Tín lập ra các điều ngạch ghi ra dưới đây:

7 điều đầu tiên trong mục lục sổ tư văn xã Ba Lăng.

Điều 1: Thờ thần và các bậc tiên hiền

     Chúc văn giao cho những người đỗ đạt, thứ đến là các xã trưởng. Nếu trong xã khỏng có những người đỗ đạt thì giao cho xã trưởng không được tranh giành nhau. Vào ngày cầu phúc chính, đồ biếu gồm 5 phẩm oản quả; ngoài ra các ngày tiết lễ khác đồ biếu gồm đầu lợn và các vật tế.

     Trong ngày tế đinh, đồ biếu gồm 3 phẩm oản quả.

Điéu 2; Ngày cầu phúc chính biếu quan bái mệnh 5 phẩm oản quả.

     Ngoài ra các ngày tiết lễ khác, biếu đầu lợn và các vật tế. Trong ngày tế tiên hiền, những người đỗ đạt được làm chủ tế. Các đồ biếu thì dùng thịt đã tế rồi và 3 phẩm oản quả.

Điều 3: Thờ thần và các ngày tế đinh.

    Các nghi lễ giao cho những người đỗ đạt, thứ đến là xã trưởng. Đồ biếu y như biếu cho người đọc chúc văn gồm 1 đầu bò, 1 chân lợn.

     Ngày lễ Thượng điền: những người trông coi nghi lễ và những người đọc chúc văn thì biếu đầu lợn và các vật tế. Ngoài ra, những người giúp việc tế lễ nếu không ra lễ sẽ không có phần.

Điều 4: Oản quả trong 2 ngày lễ cầu phúc phân làm 2 phần:

     Những người hành lễ được nhận 1 phần, còn 1 phần chia đều.

Điều 5: Khi hành lễ thờ thần các bậc chức sắc trong làng phải ăn mặc quần áo tề chỉnh. Nếu ai thiếu sót bắt phạt tiền là 6 mạch. Nếu ai có lệnh phải đi xa, có tang nhỏ hay bị bệnh cũng phải có trầu cau để báo sự vắng mặt.

Điều 6: Trong bản xã nếu ai có việc hiếu phải có trầu cau báo cho hội tư văn biết. Khi đưa tang đến chặng nghỉ giữa đường thì dùng tạm một mâm cỗ lớn, một mâm đầu lợn, trâu, bò dâng hội tư văn. Những người hành lễ được nhận phần biếu mâm cỗ chính, số còn lại chia đều.

Điều 7: Việc báo hiếu có ghi vào bài vị, việc mang bài vị của người chết đều do hội tư văn đảm nhiệm và một cỗ giá tiền một quan 8 mạch. Mỗi người lo việc ma chay đều được biếu 3 mạch tiền cổ y như tiền ngạch.

Đọc thêm tại: http://huonguoctucle.blogspot.com/2015/07/huong-uoc-ruong-at-cua-xa-ba-lang-tong.html



Từ khóa tìm kiếm nhiều: le hoi viet nam

Hương ước ruộng đất của Xã Ba Lăng tổng Đông Cứu huyện Thượng Phúc

     Hai thửa ruộng trên giao cho anh Giai cày cấy, thu 50 bát gạo.

- Ngày 25 tháng 8 năm Bính Thìn, bản hội họp bàn, từ nay về sau như gặp năm mất mùa, thì số gạo thóc hoa lợi tuỳ theo tình hình cụ thể mà giảm bớt cho.

- Ngày tế đinh tháng 2 năm Đinh Tỵ, bản hội lại xét thấy số ruộng hơn 3 sào ở gò đất cũ tại xứ Mẽo đó, trong đó có 1 thửa ruộng phía đông giúp đường lớn, hiện còn đang bỏ hoang, ước chừng 13 thước ruộng. Nay thấy đáng giảm bớt cho 10 bát gạo. Đợi sau này thấy có cày cầy thực sự thì sẽ chiểu theo số mà thu cho đủ.

- Ngày tế đinh tháng 2 năm Mậu Ngọ, bản hội thấy 2 thửa ruộng ở gò đất cũ xứ Mẽo, lại có 1 thửa ở gần đường lớn đã khai khẩn. Từ những năm trước đây anh Giai tuỳ tiện cày cấy, nay định đặt giao cho 4 viên bàn nhất cày cấy, hàng năm cứ theo lệ cũ đưa vào số ruộng mà thu hoa lợi dò kinh tế.

Hương ước ruộng đất của Xã Ba Lăng tổng Đông Cứu huyện Thượng Phúc

- Ngày 22 tháng 2 năm Quý Hợi, Hàn Lâm Viện Hiệu tháo Nguyễn Duy Tín vâng theo lời dặn của bà mẹ, đem đặt 1 thửa ruộng tại xứ Ngôi Cây Đa Làng là 1 sào để kinh tế tiên hiền.

 - Ngày tháng 9 năm Bính Tý, Nguyễn Văn Độ trong bản hội nộp thay tiền cho bàn nhất là 6 quan. Số tiền này giao cho các ông ở bản nhất là Nguyễn Giám nhận lấy, rồi đem cho vay lấy lãi, mỗi quan lấy lãi 4 mạch tiền cổ. Số lãi đó chia đều chi dùng vào hai ngày lễ xuân thu.

     Tờ ước này giao cho đương cai giữ lấy mà làm.

- Ngày lễ đinh mùa thu năm Kỷ Mão, bản hội xét bàn số tiền 6 quan mà ông Văn Độ giao cho đương cai cho vay lấy lãi theo lộ, từ nay trở về sau không giao cho bàn nhất nữa.

Nay biên chép.

- Ngày 28 tháng 8 mùa thu năm Ất Dậu, bản hội làm lễ tế đinh, tuổi các vị trong Văn hội kẽ khai cả ra dưới đây:

     Quan viên trong Viìn hội giáp gồm:


  1. Đốc học Quảng Bình, Dao Khê bá Lê Huy Côn.

  2. Tri huyện huyện Hiệp Hoà, Quýnh Đức tử Ngô Trọng Quỳnh.

  3. Tri huyện huyện Hữu Lũng, Liêm Phái từ Nguyễn Lý Hào.

  4. Cựu Quan viên tử Nho sinh Ngô Quý Hoà.

  5. Cựu Tá lĩnh sứ Hành Đức bá Nguyễn Hành.

  6. Cựu sinh đồ Ngô Duy Mỹ.

  7. Nguyễn DoănCung.

  8. Cựu Nho sinh Nguyễn Tác Cầu.

  9. Cựu sinh đồ Ngô Duy Sảng.

  10. Cựu Nho sinh Nguyễn Đăng Đường.

  11. Cựu Khoá sinh Nguyễn Kiều.

  12. Cựu sinh đồ Nguyễn Khanh.

  13. Sinh đồ Nguyễn Tế.

  14. Văn hàn Nguyễn Giám.

  15. Hình phòng Lê DoănQuỳ.

  16. Nhiêu học Nguyễn Độ.

  17. Thù từ Nguyễn ThếThịnh.

  18. Bạch Văn Dự.

     Cùng mọi người trên dưới. Xã Ba Lăng tổng Đông Cứu huyện Thượng Phúc, nay thuộc xã Thắng Lợi huyện Thường Tín. Hương ước của xã viết bằng chữ Hán. Hiện ở Thư viện Viện Nghiên cứu Hán Nôm còn giữ được 1 bản chép tay gồm 56 trang, ký hiệu A.1053



Từ khóa tìm kiếm nhiều: lễ hội việt nam

Quy định dùng quan tiền sắm mâm cỗ làm tế ở văn chỉ

     Hàng năm đến ngày 28 tháng 5 là ngày giỗ khai khoa của bản tổng, nên bản hội quy định dùng quan tiền sắm mâm cỗ đem đến làm tế ở văn chỉ. Ngoài ra không được tuỳ tiện thêm gì nữa.

Lập ước ngằy 25 tháng 1 năm Cảnh Hưng 47 (1786)

Giám sinh Nguyễn Toại ký.

Quan viên phụ Hàn Lâm viện thị độc Ngô…

Quan viên phụ giảng dụ Lê…

Hộ bộ Lang trung Phạm…

Tri huyện Nguyễn…

Huấn đạo Phạm…

Huấn đạo Lê…

Nho sinh trúng thức Ngô…

Huyện thừa Hoàng Nguyễn Huyên ký.

Sinh đồ Lê DoănSung ký.

Bản hội đồng ký.

Bản khoán ước này lâu ngày, nguyên bản bị rách nát, ngày tháng 2 năm Đinh Mão bản hội cùng với ông cựu nho sinh Lê Huy Côn sao thực y như bản cũ. Nay vâng mệnh sao thêm một bản nữa, để đề phòng vạn nhất.

Quy định dùng quan tiền sắm mâm cỗ làm tế ở văn chỉ

Số ruộng bản hội để lại ở các xứ kê khai ra dưới đây.

- Quan Cựu Thiêm đô đặt 1 thửa ruộng tại xứ Sơn Phùng 1 sào 1 thước. Hàng năm lấy hoa lợi là 50 bát quan đồng gạo, để dùng vào tế tiên hiền trong dịp tế đinh mùa xuân. Bắt đầu từ năm Giáp Thìn trở về sau.

- Huyện thừa Hoàng Nguyễn Huyên đặt 1 thửa ruộng tại xứ Sơn Phùng 1 sào. Hàng năm lấy hoa lợi là 50 bát quan đồng gạo, để dùng vào việc tế tiên hiền trong dịp tế đinh mùa xuân.

- Đồng Tri phủ Nguyễn Thế Vinh đặt 1 thửa ruộng tại xứ Đa Bang 1 sào. Hàng năm lấy hoa lợi là 50 bát quan đồng gạo, để dùng vào việc tế tiên hiền trong dịp tế đinh mùa thu.

- Sinh đồ Bạch Bá Duệ đặt 1 thửa ruộng tại xứ Đê Dài 1 sào. Hàng năm lấy hoa lợi là 50 bát quan đồng gạo để dùng vào việc tế tiên hiền trong dịp tế đinh mùa thu.

Bốn thửa ruộng trên giao cho đương cai cày cấy.

- Quan viên phụ Thị độc bỏ tiền ra thuê Ngổ Thân Quy^n kha* hoanỳ; 1 thửa ruộng tại xứ Mèo, rồi giao cho người này trồng nom CÀN v’âv hàng năm thu hoa lợi là 20 bát quan đổng, trong đó chi 10 bát cho ìv’ khai ha, số còn lại dùng vào lệ xướng ca thờ thần.

- Khu gò đất cũ ở xứ Mẽo phỏng chừng 3 sào có dư thành ruộng, giao cho anh Giai canh tác. Hàng năm thu hoa lợi 45  quan đồng gạo để dùng vào lễ xướng ca.


Khoản lệ nộp tiền lan giai

    Tiền lan giai, bản xã đã có khoán lệ. Trong xã hễ người nào cưới xin, thì phải nộp I quan tiền cổ. Trong đó biếu triều quan 2 mạch tiền cổ, xã thôn trưởng 3 mạch 30 xu tiền cổ, binh biền 30 xu tiền cổ. Nếu lấy người ở xã khác thì phải nộp 1 quan 5 mạch cổ tiền. Trong đó biếu triều quan 3 mạch tiền cổ. Bản hội 3 mạch tiền cổ, quan viên các chức 3 mạch tiền cổ, sắc mục xã thôn trưởng 5 mạch 50 xu tiền cổ, binh biền đều là 50 xu. SỐ tiền biếu bản hội cũng do đương cai thu lấy để chi dùng chung.

   Trong bản hội vị nào có con gái lấy chồng trong xã thì nộp tiền lan giai cho bản hội là 3 mạch tiền cổ, lấy chồng ở xã ngoài thì phải nộp 6 mạch tiền cổ. Số tiền này nộp cho đương cai thu lấy chi dùng chung.

Khoản lệ nộp tiền lan giai

    Trong bản hội có vị nào được bầu làm xã trưởng thì phải nộp cho bản hội 1 quan tiền cổ. Người trong bản xã được bầu làm xã trưởng thì phải nộp 2 quan tiền cổ. Số tiền này cũng giao cho đương cai thu lấy để chi dùng chung.

    Hàng năm đến dịp vào đám xướng ca, các giáp sắm lễ tế thần, xong đem biếu triều quan mỗi vị 1 thủ lợn. Các đêm sau mỗi đêm kính biếu bản hộ. Bốn đêm cuối cùng đem biếu cho người trực, mỗi đêm biếu 1 người trực. Năm nào không tổ chức xướng ca, hoặc tổ chức xướng ca không đầy đủ thì tuỳ nghi.

    Hàng năm đến các ngày vào đám, rã đám, cầu phúc, xuân tế… thì thủ lợn và nửa chiếc nọng bò đem biếu triều quan, mỗi quan thêm 1 mâm cỗ. Kính biếu quan chủ tế nửa mâm cỗ, còn nửa mâm đem chia. Cùng với số thủ lợn, nọng bò các giáp đem tế thần và số cỗ bàn hoặc tiền, thì chia đều cho các viên ứng tế trong bản hội. Riêng các vị triều quan và các vị trúng trường, trúng thức, giám sinh hoặc người nhậm chức ở trấn ngoài cùng với những người có việc bận không tham gia ứng tế, thì cũng được chia phần như người ứng tế. Số còn lại thì châm chước phân chia.

    Vị hiệu quan nào làm lẻ tống đinh tống đằng, bản hội cũng hứa cho mỗi lễ là 2 mạch tiền cổ.

    Người ở xã khác chôn cất nhờ ở địa phận bản xã, thì đã có khoán lệ quy định nộp 2 quan tiền cổ. Trong đó nộp cho bản hội 2 mạch. Số tiền đó cũng giao cho đương cai thu lấy để chi dùng chung.

    Trong bân hội có vị nào hai năm mươi, ngày lễ đưa đám, bản hội sấm lễ lợn, rượu, xôi đến phúng viếng, hạn mức tiền là 2 quan 6 mạch tiền cổ. Nếu gia đình nhà nào sơ suất không kịp báo, sau này mới xin bản hội trợ lễ, thì chi phúng 1 thủ lợn, 1 mâm xôi giống như phúng viếng cha mẹ.

Trên đây gồm 18 điều khoán ước, các viên trong hội cần căn cứ vào đó mà thi hành. Ai vi phạm thì tuỳ theo sự việc, nhẹ thì cho lẻ tạ nộp 2 quan tiền cổ, nặng thì đuổi ra khống cho tham gia hội.



Từ khóa tìm kiếm nhiều: hương ước là gì 

Hương ước cho những người đỗ đạt

     Mỗi vị thi hương đỗ tứ trường, bản hội lễ mừng 1 gánh rượu, trúng giải nguyên lễ mừng 1 con lợn, 1 vò rượu, đáng giá 2 quan tiền.

     Vị hậu tiến nào thi đỗ tam trường được gia nhập bản hội, cần phải chọn ngày sắm sửa lễ vật gồm trầu cau, kính biếu triều quan mỗi vị 1 khay có 10 khẩu, các vị trong bản hội mỗi vị 1 khẩu. Trước tiên đem đến yết bái các bậc tiên hiền. Lễ vật gồm 2 con gà, 2 mâm xôi, 2 vò rượu, 2 khay trầu mỗi khay 50 khẩu. Sau khi lễ xong đem đến nhà đương cai, tất cả các vị có mặt ở đó cùng uống rượu. Cỗ bàn theo như lệ cũ đều châm chước, cho nộp thay bằng tiền, mỗi mâm 3 mạch. Triều quan mỗi vị 1 mâm, trùm xã 2 vị một mâm. Bản hội 4 vị một mâm. Tất cả đều chiếu theo sổ nhận lấy. Theo lệ phải nộp 1 quan 2 mạch tiền cổ.

Hương ước cho những người đỗ đạt

    Vị nào trúng tiền tứ trường lệ nộp 1 quan tiền sử. Trúng ưu hạng nộp khao xếp thứ gồm 3 mạch tiền cổ. Tất cả phải có thứ tự.

    Số tiền đó bản hội mừng cho người mới nhập vào bản hội 1 mạch, trùm nhận lấy mỗi vị 1 phần. Số còn lại giao cho đương cai để chi dùng vào việc chung của bản hội. Mỗi viên nộp tiền trùm, thì y theo lệ.

    Người nào dạy bảo con cái thi đỗ khoa mục, từ triều quan, giám sinh và người có tài văn chương đích thực thi đỗ tam trường, khi vào hội các lỗ nghi tiến hành giống như người thi đỗ mới gia nhập hội. Các thể lệ tiền và thứ tự tham dự trùm đểu nộp 6 mạch tiền cổ.

    Trong bản hội vị nào từ 50 tuổi trở lên, cần bầu làm trùm, từ giám sinh trở lên nộp 6 mạch tiền cổ, từ nho sinh trờ xuống nộp Ị quan tiền cổ.

Trong bản hội vị nào thọ từ 70 tuổi trở lên thì được kính miên các loại tiền phân bổ.

Người nào trúng trường làm quan chính thức, thi tiền khai độc sắc văn nộp tại bản hội với số tiền là 6 mạch, cùng vãi vị nào trong xã kính nhận sắc mệnh vua ban thì bản xã có khoán lệ quy định phái nộp ^0 quan tiền cổ. Trong đó tại Văn hội thu lấy 3 quan tiền cổ, quan vièn sãc mục xã thốn trưởng thu lấy 2 quan tiền cổ. Nho sinh, sinh đồ kính nhận các chức tạp lưu, thì phải nộp tiền quan độc mỗi viên là 10 quan tiền cồ. Trong đó tại bản hội thu lấy 3 quan tiền sử, quan viên sắc mục xà thổn trường thu lấy 2 quan tiền sử. Số tiền còn lại đều để cho bản xã chi chung vào việc quan. Riêng trường hợp vị nào có hai cha con đều được miễn quan địch mà người cha lại được kính nhân sắc mệnh, thì cho phép nộp tiền khai độc với số lượng là 5 quan tiền cổ. Trong đó tiền cho bản hội là 2 quan, tiền cho bàn xã là 3 quan. Tất cả đều do bản hội thu lấy. Các viên thực tại của bản hội cẩn phải chiếu thu theo lệ cho đủ số mới được khai độc (mò ra dọc). Nếu như nể tình riêng mà tuỳ tiện khai độc thì cách bỏ không cho tham gia hội nữa. Tiền khai độc thu theo lê thì đem giao nộp cho xã trường ứng vụ và thủ từ 2 quan người viết đơn 6 mạch. Trong đó cho người viết đơn 1 mạch, số còn lại mỗi người được 5 mạch.



Từ khóa tìm kiếm nhiều: tuc le lang

Các điều lệ được định ra trong các buổi hội họp

     Các Toàn thể mọi người trên dưới trong giáp, hội họp định ra ước lệ, lại châm chước thẩm định đặt ra các điều, kê khai ra dưới đây:

     Năm nào có mở hội xướng ca thờ thần và hai kỳ tế đinh mùa xuân mùa thu, làm lễ kính tế tiên hiền. Số tiền gạo nên xem xét thu ở số ruộng do bản hội để lại. Các loại tiền dùng vào việc công phân làm 3 lễ. Nếu thiếu, chiếu theo số phân bổ, cốt sao cho đủ.

     Hàng năm đến ngày bản hội mỏ tiệc xướng ca thờ thần sau khi lễ xong đem số lễ vật xôi lợn rượu làm thành cỗ ở nhà đương cai, mỗi viên triều quan được nhận 1 cỗ, số còn lại chiểu theo thực số các viên mà làm cỗ bàn. Cứ hai vị trùm thì được một cỗ. Số còn lại thì cứ 4 vị một cỗ, nhập trạch 1 cỗ. Đêm ấy tổ chức xướng ca, cỗ bàn chiếu theo thực số các viên đình thượng nhận lấy. Số tiền này giao cho hạ trùm 1 bàn, cứ 4 viên thượng đình được nhận 1 phần. Mỗi cỗ sắm sửa đáng giá 2 mạch tiền cổ. Đến giờ Dậu đưa đến đình không được để thiếu. Số lợn, rượu, xôi, trầu cau 50 khẩu và tiền trừ 1 quan, tiền thưởng tiêu 1 quan 5 mạch, tiền dầu đèn xướng ca thờ thần, toàn thể bản hội cùng chịu. Các tiền dầu đèn còn lại do đương cai chịu. Các tiền đó đều chiếu bổ, riêng đương cai và các nhà có tang (đinh ưu) thì cấp thêm cho mỗi viên 30 xu tiền cổ.

Các điều lệ được định ra trong các buổi hội họp

     Ngày kính tế tiên hiền, kính biếu các vị triều quan, trùm trưởng và nhập trạch uống rượu của bản hội, cỗ bàn y như lệ xướng ca thờ thán. Riêng bọng trâu bò hoặc thủ lợn sống kính biếu triều quan và các trùm đều như nhau. Bốn chân trâu bò hoặc số mỡ lợn chia đều cho đương cai. Người đương cai chỉ nộp thay rau dưa theo lệ cũ đáng giá 6 mạch tiền cổ. Ngày này nếu như có các tiền phân bổ, thì nên châm chước. Riêng các giấy viết tế vàn mục lục ở các kỳ trong năm thì đều do đương cai chịu.

     Mỗi vị đỗ bảng vàng, thì bản hội sắm lễ chúc mừng gồm: 1 con bò, mâm xôi, 1 gánh rượu. Chúc mừng quan viên chí sĩ cũng giống như thế.



Từ khóa tìm kiếm nhiều: tục lệ làng

Các quan viên hương chức ở giáp Văn Hội

     Làng La Khê huyện Từ Liêm, nay thuộc phường La Khê quận Hà Đông. Trong đình làng La Khê hiện lưu giữ một bản quy ước của Hội Tư văn lập ra ngày 21 tháng 1 năm cảnh Hưng thứ 47 (1786) đời Lê Hiển Tông. Nguyên bản viết bằng chữ Hán, gồm 31 trang.

Các quan viên hương chức ở giáp Văn Hội

Các quan viên hương chức ở giáp Văn Hội xã La Khê huyện Từ Liêm phủ Quốc Oai gồm :

Quan viên phụ Hoằng Tín đại phu Hàn lâm viện Thị độc Ngô Nguyễn Hoán, Giảng dụ Lê Đình Doãn, Quan viên Giám sát Ngự sử lạo Thanh Hoa Ngô Duy Trưng, Hàn Lâm viện Đãi chế Ngô Trọng Khuô, Thư Thanh Hoa đạo Giám sát Ngự sử Hàn Lâm viện Đãi chế Lê Cử, Hộ bộ Lang trung Phạm Nguyễn Thuần, Tri huyện Nguyễn Quân, Huấn đạo Phạm Nguyễn Dung, Lê Đăng Đệ, Nho sinh trúng thức Ngô Ngạn Dĩnh, Giám sinh Nguyễn Toại, Huyện thừa Hoàng Nguyễn Huyên, Điện tiền Phạm Danh Tuấn, Phó sở sứ Bạch Bá Cơ, Nho sinh Lê Doãn Thuần, Nguyễn Bao Thước, Lê Doãn Giảng, Nguyễn Bao Dung, Sinh đồ Lê Nguyễn Tố, Lê Nguyễn Hoàn, Nguyễn Liên, Nguyễn Phú Lễ, Lê Thọ Cảnh, Lê Nguyễn Huệ, Hoàng Ngô Diễn, Nguyễn Hữu Dung, Hoàng Nguyễn Lệ, Phạm Nguyễn, Lê Nguyễn Mưu, Nho sinh Lê Doãn Tín, Nguyễn Duy Tín, Ngô Hổ Bính, Ngô Quý Hoà, Nguyễn Trữ, Vũ Nguyễn Tinh, Nguyễn Thế Khoát, Lê Đăng Đàn, Nguyễn Tuyên, Nguyễn Bao Triêm, Nguyễn Huy Côn, Hoàng Nguyễn Viêm, Nguyễn Tác Cầu, Lê Doãn Đương, Phạm Danh Sính, Nguyễn Trần Bích, Nguyễn Đăng Đường, Sinh đồ Nguyễn Duy Dần, Vũ Duy Hoà, Bạch Trọng Xuân, Trần Gia Thụy, Nguyễn Tiến Thành, Bạch Dương Lệnh, Nguyễn Thế Quý, Nguyễn Trọng Hành, Lẽ Nguyễn Vĩ, Nguyễn Học Sử, Nguyễn Thị Nhậm, Nguyễn Kim Giá, Nguyễn Danh Chấn, Nguyễn Danh Thuyết, Lê Nguyễn Giai, Phạm Danh Tích, Nguyên Lộc, Nguyễn Hướng, Nguyễn Cầu, Ngô Nguyễn Mỹ Nguyễn Bao Bảng, Nguyễn Hữu Quyền, Vũ Tuy, Nguyễn Huy Ánh, Nguyễn Doãn Cung, Nguyễn Bao Tiến, Hồ Văn Trường, Hoàng Nguyễn Tương, Lê Doãn cẩn, Nguyễn Duy Hành, Ngô Duy sảng, Bạch Trọng Du, Lê Nguyễn Thanh, Trần Nguyễn Tích, Trần Đăng Vượng, Hoàng Nguyễn Tưởng, Phạm Duy Nhiên, Lê Doãn Cai, Trần Đăng Lịch, Lê Bá Ngoạn, Vũ Duy Lăng, Trần Đăng Lộc, Lê Doãn Danh, Lê Doãn Sung…