Điều 16: Năm Nhâm Thân số ruộng chia đều từ cụ cựu trở xuống chiếu theo tuổi tác mà được trước. Ngày tháng 2 năm Minh Mệnh 20 (1839) tính lại số ruộng cũ và mới trừ số ruộng phụ canh gồm 2 thửa tại xứ Vĩnh Mộ, chỉ còn lại số ruộng cho vụ chiêm và vụ mùa gồm 1 mẫu 6 sào 2 khẩu 3 thốn.
Nay ghi lại.
Điều 17: Năm Ất Dậu định việc bán 10 chức quan đương cai, mỗi người giá 2 quan tiền cổ để làm vốn.
Nay kê lại.
Việc thờ hậu mỗi người cày ruộng sửa lễ gồm có gạo oản ngon, nếu ai làm trái sẽ định lệ phạt 1 quan 2 mạch tiền cổ. Lên danh sách những việc cần trợ giúp, những người có việc hiếu việc hỷ trong hội tư văn.
Điều 18: Ngày tế đinh mùa thu năm Bính Tuất ghi lại tiền vốn cũ và mới được 94 quan 2 mạch 48 văn tiền, hội tư văn cứ theo đó ghi vào sổ ghi tiền vốn của năm Bính Tuất. Các điều trên đều ghi lại trong sổ gốc của hội tư văn. Lâu ngày nét chữ bị mờ đi e rằng có kẻ xấu bụng sẽ làm hỏng mất, do vậy hội sẽ sao chép lại như gốc để cho cho cháu sau này theo đó mà làm thành lệ.
Tú tài Nguyễn Bá Phát sao chép, Cai tổng Vũ Bá Mạo, Vũ Bá Ngũ… Các điều ngạch này Vũ Bá Kiểm cùng toàn hội tư văn chuẩn y ghi lại.
Điều 19: Ngày 24 tháng 9 năm Minh Mệnh 13 (1832).
Thân định điều khoản.
Ngày tế chính của 2 kỳ tế đinh, hội tư văn mũ áo tề chỉnh túc trực suốt đêm cho đến khi hành lễ. Nếu ai làm thiếu sót sẽ bị phạt như điều ngạch chính.
Tháng 9 năm Nhâm Thìn hội tư văn kê định số ngạch gốc, ruộng mùa thu gồm 5 phần, thu lấy tiền mỗi phần là 1 quan 2 mạch trong l năm. Nay theo đó mà thu được 6 mạch tiền cổ 1 năm.
Người nào từ chức câu đương cho đến thôn trưởng thụ lấy số tiền lãi giao cho viên câu đương đủ số tiền để sắm lễ vật làm lễ. Đến ngày lễ chính cũng nên cùng quan câu đương sửa lễ gồm trâu bò (súc vật dùng để tế). Những người giúp việc tế lễ được biếu 1 đầu (trâu bò) quan câu đương được nhận 1, viên lý khán được nhận 1; chân lợn cũng biếu như vậy.
Cai tổng Vũ Bá Mạo, Đội trưởng Nguyễn Phương, Lý trương Nguyễn Hữu Lạp chuẩn y.
Điều 20: Ngày 26 tháng 8 năm Nhâm Ngọ, quan huấn viên giao cho hội tu văn sổ sách cùng văn tự tổng cộng 25 trang và 1 trang ghi việc biện lễ trả đinh vào mùa thu năm đó. 8 trang khoản ngạch có chữ, 6 trang văn tự bán mua đất, 3 trang ghi ruộng tu văn ở cấp thửa ruộng, 5 trang sổ bạ ghi tiền vốn năm Giáp Tuất, 1 sổ bạ mới ghi việc trợ giúp gồm 4 trang.
Từ khóa tìm kiếm nhiều: tục lệ làng
