Pages

Được tạo bởi Blogger.

Quy định về ghi chép số ruộng công và mới của hội tư văn

Điều 15:

     Kỳ tế mùa xuân tháng 2 năm Nhâm Thân ghi chép số ruộng công cũ và mới của hội tư văn được bao nhiêu thửa, chiểu theo số ruộng đó chia đéu làm 5 phấn: mỗi phần bao nhiêu, định thu tiền mỗi mùa là bao nhiêu, thu bao nhiôu gạo… tất thảy đều ghi rõ ở sau.- Một thửa 2 sào 5 khẩu tại xứ Cung Đường. Ruộng này, cả năm lấy 60 phẩm oán chia cho 2 kỳ tế lễ xuân thu; mỗi kỳ lấy 30 phẩm để cúng. Nay lại đặt lộ thu oản cả năm mỗi sào là 20 phẩm cộng 50 phẩm chia đều cho 2 kỳ tế.

Nay ghi lại.

- Một thửa 1 sào 3 khẩu 1 thốn 3 thước tại xứ Đồng Vĩnh

- Một thửa 1 sào 2 khẩu 4 thốn 4 thước tại xứ Đồng My.

- Hai thừa ruộng tại xứ Đổng Vĩnh định thu oản y như ở xứ Cung Đường.

- Một thửa 7 khẩu tại xứ Đình Năng. Nay định thu oản là 14 phẩm.

- Một thửa 6 sào tại xứ Phân La, lấy 2 sào 5 khẩu cả năm thu lấy gạo mỗi sào là 20 bát tổng cộng 50 bát chia đều cho 2 kỳ tế lễ chiểu nộp cho quan câu đương để biện lễ. Còn lại 3 sào 5 khẩu thu lấy oản, cả năm mỗi sào 20 phẩm, tổng cộng 70 phẩm chia đều cho 2 kỳ tế mỗi kỳ tế là 35 phẩm.

Quy định về ghi chép số ruộng công và mới của hội tư văn

Nay ghi lại.

Tổng cộng: 1 mẫu 1 sào 7 khẩu 6 thốn 1 thước. Số ruộng mới gồm:

- Một thửa ở xứ Viên Phàm gồm 4 khẩu 6 thốn chia 3 và định thu oản.

- Một thửa 3 sào 8 khẩu 6 thốn ở xứ ấy

- Một thửa 1 sào 2 khẩu ở xứ Đường Con Cá.

- Một thửa 1 sào 5 khẩu xứ Đồng Sai. Nay thu lấy 30 bát gạo trong cả năm, đều là gạo tốt, chia đều số gạo trên cho 2 kỳ tế. Nay ghi lại ở trên tổng cộng 6 sào 8 khẩu 3.

     Ở trên, tổng cộng số ruộng cũ, ruộng vụ chiêm là 1 mẫu, 2 sào 6 khẩu 1 thước, đã trừ thửa ruộng ở xứ Cung Đường và 2 thửa ở xứ Đồng Vĩnh thu lấy oản; Chỉ còn lại 7 sào 5 khẩu 3 thốn và 6 sào ruộng vụ mùa, tất cả chia đều làm 5 phần, mỗi phán hao nhiêu đều ghi rõ ở sau:

- 1 phần ở xứ Vườn Dù gổm 4 khẩu 6 thốn, ở xứ đó 9 khẩu 6, hàng năm thu lấy 28 phẩm oán chia đều cho 2 kỳ tế lễ, mỗi kỳ 14 phẩm oản cũng giống như dưới đây: Ruộng hạ điền gồm 1 sào 5 khẩu ở xứ Phân La, định lấy tiền cả năm là 1 quan 2 mạch tiền cổ chi dùng cho lễ hạ điền cả năm là 6 mạch.

- Một phần ở xứ Vườn Dù gổm 9 khẩu 6 thốn và 5 khẩu ở xứ Đồng Sai thu lấy 20 phẩm oản chia đều cho 2 kỳ tế lễ.

     Ruộng hạ điền gồm 1 sào 5 khẩu ở xứ Phân La, định lấy tiền cả năm là 1 quan 2 mạch tiền cổ, chỉ dùng cho lễ hạ điền một năm là 6 mạch.

- Một phần ở  xứ Vườn Dù gồm 9 khẩu 6 thốn và 5 khẩu ở xứ Đồng Sai; thu lấy oản cả năm là 20 phẩm chia đều cho 2 kỳ tế lễ.

     Ruộng hạ điền gồm 1 sào 7 khẩu ở xứ Phân La, định thu lấy tiền cả năm là 1 quan 2 mạch tiền cổ, chi dùng cho lễ hạ điền 1 năm là 6 mạch tiền.

- Một phần 9 khẩu 6 thốn ở xứ Vườn Dù và 5 khẩu xứ Đồng Sai thu lấy oản cả năm là 20 phẩm và chia đều cho 2 kỳ tế, ruộng hạ điền 1 sào 5 khẩu ở xứ Phân La, định thu lấy tiền cả năm là 1 quan 2 mạch tiền cổ, lại thu cho lễ hạ điền một năm 6 mạch.

- Một phần: 1 sào ở xứ Đường Con Cá, và 7 khẩu ở xứ Đình Năng; thu lấy oản một năm là 34 phẩm chia đều cho 2 kỳ tế, định thu lấy tiền 1 quan 3 mạch 36 văn tiền cổ trong 1 năm.

     Tổng cộng số oản thu được cả năm là 222 phẩm, trừ 50 phẩm cho cáo lễ, còn lại 172 phẩm dùng cho lễ chính.