Từ khao có nguồn gốc từ tiếng Hán, dùng để chỉ việc tổ chức yến tiệc mừng cồng, khoản đãi quân sĩ. Trong các làng xã Việt Nam thời xưa, mỗi khi gặp được việc vui mừng như thi đỗ, được bổ làm quan hay đến tuổi lên lão làng, người ta thường tổ chức bữa tiệc thịnh soạn để chiêu đãi bà con chòm xóm và bạn bè thân hữu, đó là tiệc khao. Dân làng đến dự tiệc sẽ chứng nhận tư cách pháp nhân của người tổ chức tiệc khao rằng người đó đã đủ tiêu chuẩn để vọng vào các ngôi thứ trong làng. Nếu như người thi đỗ hoặc bổ làm quan mà không tổ chức tiệc khao, hoặc tổ chức tiệc khao không đúng nghi thức quy định, thì dân làng mặc nhiên không công nhận tư cách của người đó.
Nghi thức tổ chức tiệc khao rất phong phú và đa dạng, song cũng tùy thuộc vào điều kiện kinh tế của từng người và phong tục tập quán của từng địa phương. Thông thường là giết trâu mổ lợn làm cỗ linh đình, chẳng hạn như lệ khao ở làng Dương Liễu huyện Hoài Đức có quy định các hạng mục rất rõ ràng: “‘‘Trong dân ai cỏ việc vui mừng thì khao làng 1 con bò trị giá 10 quan tiền, 1 gánh rượu ngon trị giá 2 quan tiền, 100 đấu gạo xôi,..”. Đến khi kinh tế hàng hóa phát triển, nhiều làng đã quy đổi các lễ vật khao làng thành tiền mặt cho tiện lợi. Lại có làng vừa thu lễ vật vừa thu bằng tiền mặt, chẳng hạn như lệ khao ở làng Yên Trường huyện Chương Mỹ quy định: “Lệ khao dùng 1 con lợn, ỉ mâm xôi, 6 chai rượu, 100 khẩu trầu và thêm 50 đồng bạc”. Số tiền và lễ vật này hoặc dùng toàn bộ làm cỗ khao làng, hoặc trích lại một phần giao lại cho bản giáp, còn bao nhiêu đem làm cỗ mời dân làng cùng dự.
Nghi thức tổ chức tiệc khao rất phong phú và đa dạng, song cũng tùy thuộc vào điều kiện kinh tế của từng người và phong tục tập quán của từng địa phương. Thông thường là giết trâu mổ lợn làm cỗ linh đình, chẳng hạn như lệ khao ở làng Dương Liễu huyện Hoài Đức có quy định các hạng mục rất rõ ràng: “‘‘Trong dân ai cỏ việc vui mừng thì khao làng 1 con bò trị giá 10 quan tiền, 1 gánh rượu ngon trị giá 2 quan tiền, 100 đấu gạo xôi,..”. Đến khi kinh tế hàng hóa phát triển, nhiều làng đã quy đổi các lễ vật khao làng thành tiền mặt cho tiện lợi. Lại có làng vừa thu lễ vật vừa thu bằng tiền mặt, chẳng hạn như lệ khao ở làng Yên Trường huyện Chương Mỹ quy định: “Lệ khao dùng 1 con lợn, ỉ mâm xôi, 6 chai rượu, 100 khẩu trầu và thêm 50 đồng bạc”. Số tiền và lễ vật này hoặc dùng toàn bộ làm cỗ khao làng, hoặc trích lại một phần giao lại cho bản giáp, còn bao nhiêu đem làm cỗ mời dân làng cùng dự.
Người tổ chức tiệc khao được hưởng quyền lợi là được vọng vào ngôi thứ trong đình, được hưởng phần lễ biếu trong các kỳ tế lễ, và được tham dự các tiệc khao của người khác. Tiệc khao thường chỉ tổ chức một làn, song cũng có người tổ chức nhiều làn. Quyền lợi của người tổ chức tiệc khao nhiều làn cũng theo đó mà tăng thêm, chẳng hạn như lệ làng Dương Liễu huyện Hoài Đức quy định: “Người tổ chức tiệc khao 1 làn được phân chia 1 sào ruộng, được biếu 3 người ỉ mâm cố trong kỳ tế thánh; người tổ chức tiệc khao 2 lần được chia 2 sào ruộng, được biếu 2 người 1 mâm cỗ”.
Từ khóa tìm kiếm nhiều: hương ước là gì
