Điều 8: Ngày tiên thường và ngày tế ngư, các mâm cỗ chiểu theo số người ở hội tư văn, mỗi mâm 4 người, lễ thày 1 mâm.
Điều 9: Việc báo hiếu trước và sau khi chôn cất với số tiền là 1 mạch. Các cỗ bàn trợ tế cùng thủ lợn, đầu trâu bò đều được bày tại hội tư văn.
Điều 10: Hễ có khao vọng nhập hội tư văn, người tham dự là những người đỗ đạt và xã trưởng. Số tiền khao vọng là 1 quan 8 mạch tiền cổ, ngoài ra có thể thêm tiền khao vọng 6 quan tiền cổ.
Điều 11: Mọi người trong hội tư văn ưng thuận bỏ ra mỗi người 1 quan tiền vốn.
Nho sinh Vũ Bá Nho: 1 quan, Vũ Bá Lăng 1 quan.
Thiếu khanh Vũ Duy Tuấn 1 quan, vo Bá Tự 1 quan. Nho Nguyễn Trị, Nguyễn Đình Bỉnh, Vũ Bá Thân, Nguyên Dinh Thuyên ;, trưởng Nguyễn Đình Duyên, Nguyễn Dăng Dao…
Tổng cộng 25 quan tiền cổ.
Ngày mùa thu năm Canh Thân số tiền còn lại là 5 mạch 36 văn tiền eổ,
Điều 12: Các thửa ruộng hội tư văn được kê dưới đây.
- Một thửa xứ Cung Đường 2 sào 5 khẩu. Một thửa xứ Đình Năng 7 khẩu.
- Một thửa xứ Vĩnh Mộ, Đồng My gồm 1 sào, 3 khẩu 1 thốn 2 thước, Ruộng xứ Y Nhị trước đây đã giao trả về cho bản xã cày cấy và được ghi trong địa bàn của xã.
- Một thửa 6 sào tại xứ Phân La.
Tổng cộng số ruộng là 1 mẫu 1 sào 7 khẩu 6 thước 1 thước dùng vào hai kỳ lễ tế xuân thu hàng năm. Mỗi tiết mỗi sào 35 phẩm, tổng cộng 100 phẩm oản gạo. Mỗi kỳ 15 bát còn thừa lại tùy theo thời giá mà nộp tiền. Số ruộng này giao cho xã trưởng trồng cấy, nếu ruộng bỏ hoang sẽ thu vào ruộng của xã trưởng.
Điều 13: Hội tư văn ưng thuận mỗi người bỏ ra 1 quan tiền cổ, tổng cộng được 25 quan dùng làm tiền vốn cho hội tư văn. Cả năm 4 mạch tiền chi dùng cho 2 kỳ tế lễ, mỗi lễ là 2 mạch. Sau này, những người bỏ tiên vốn ra không được truy hỏi về số tiền còn lại.
Ngày 11 tháng 2 năm Cảnh Thịnh 8 (1800)
Nho sinh Vũ Nguyễn Trị ký
Vũ Bá Thân ký
Nguyễn Đăng Dao ký.
Cả hội tư văn cùng ký.
Từ khóa tìm kiếm nhiều: le hoi lang
