Làng Phúc Đam nằm ở khu vực đó, nên đến ngày 28 tháng 12 năm Cảnh Thịnh thứ 4 (1796) gần Nguyên đán các quan viên chức mục trong làng liền hội họp định ra điều ước bảo vệ xóm làng.
Các quan viên chức mục, thôn trưởng xã Phúc Đam huyện Từ Liêm cùng lập văn tự ký hệ. Duyên do là thòi gian này trong xã thường xuyên xả ra chuyện cướp bóc, vì thế mọi người trong xã hội họp dật ra điều lệ giao cho khán thư, tu tin phu ra sức canh phòng và đặt điểm tuần ở các xóm. Mỗi làng phải chọn ra một viên cán dương dốc thúc dân phu làng mình cho cẩn thận. Trường hợp một lùng có háo dộng, thì cán dương các làng khác nghe thày tiếng mò hồi thì phải dẩn dân phu làng mình mang theo gậy gộc và đuốc sáng đến ứng cứu, tùy nghi truy đuổi. Ai có năng lực bắt được giặc cướp, thì cứ tính đầu tên cướp bắt dược mà thưởng, bắt được một tên thưởng 3 quan tiền cổ. Người nào bị thương nhẹ thì mỗi vết thương cấp cho 1 quan tiền cổ. Hoặc là người nào không may bị chết thì làng cấp cho tiền chân cất là 30 quan tiền cổ, lại cho một người con trai của người đó được làm nhiêu nam dể khuyến khích. Trường hợp nào coi thường chậm đến ứng cứu hoặc không ra chỗ truy bắt thì phạt làng đó tiền rượu giá 1 quan 2 mạch tiền cổ.”
Có khi hương ước tục lệ là văn bán cố định lại những tục lệ đặt ra từ trước song chỉ là khẩu truyền, nhưng do quá trình thi hành có nhiều sai sót gây ra tranh cãi làm ảnh hưởng đến tình cảm xóm làng. Chẳng hạn như ở xã Tường Phiêu huyện Thạch Thất (nay thuộc xã Tích Giang huyện Phúc Thọ) đã đặt ra 12 điều ước canh phòng giữ làng xã và đồng điền, từ thượng cổ, song phải đến năm Cảnh Hưng thứ 25 (1764) mới họp bàn cố định thành văn bản:
“Quan viên sắc mục xã khán chức dịch và đồng dân xã Tường Phiêu huyện Thạch Thất phủ Quốc Oai hội họp ở đình bàn việc cắt cử người tuần phòng trong xã, các điều khoản này đã từng khẩu truyền xin kê khai ra dưới đây”
Có nhiều làng xã tổ chức soạn thảo lại hương ước tục lệ chỉ vì một lý do hết sức đơn giản là sách để lâu dùng nhiều nên bị rách nát. Do mất chữ mất trang, nếu không ghi lại, chẳng hạn như khoán lệ của xã Hạ Hội huyện Từ Liêm (nay là xã Tân Hội huyện Đan Phượng) vốn có khoán lộ lừ cổ song do bị rách nát nên đến ngày mồng 2 tháng 9 năm Tự Đức thứ 11 (1858) dân làng mới soạn lại:
Các quan viên chức mục, thôn trưởng xã Phúc Đam huyện Từ Liêm cùng lập văn tự ký hệ. Duyên do là thòi gian này trong xã thường xuyên xả ra chuyện cướp bóc, vì thế mọi người trong xã hội họp dật ra điều lệ giao cho khán thư, tu tin phu ra sức canh phòng và đặt điểm tuần ở các xóm. Mỗi làng phải chọn ra một viên cán dương dốc thúc dân phu làng mình cho cẩn thận. Trường hợp một lùng có háo dộng, thì cán dương các làng khác nghe thày tiếng mò hồi thì phải dẩn dân phu làng mình mang theo gậy gộc và đuốc sáng đến ứng cứu, tùy nghi truy đuổi. Ai có năng lực bắt được giặc cướp, thì cứ tính đầu tên cướp bắt dược mà thưởng, bắt được một tên thưởng 3 quan tiền cổ. Người nào bị thương nhẹ thì mỗi vết thương cấp cho 1 quan tiền cổ. Hoặc là người nào không may bị chết thì làng cấp cho tiền chân cất là 30 quan tiền cổ, lại cho một người con trai của người đó được làm nhiêu nam dể khuyến khích. Trường hợp nào coi thường chậm đến ứng cứu hoặc không ra chỗ truy bắt thì phạt làng đó tiền rượu giá 1 quan 2 mạch tiền cổ.”
Có khi hương ước tục lệ là văn bán cố định lại những tục lệ đặt ra từ trước song chỉ là khẩu truyền, nhưng do quá trình thi hành có nhiều sai sót gây ra tranh cãi làm ảnh hưởng đến tình cảm xóm làng. Chẳng hạn như ở xã Tường Phiêu huyện Thạch Thất (nay thuộc xã Tích Giang huyện Phúc Thọ) đã đặt ra 12 điều ước canh phòng giữ làng xã và đồng điền, từ thượng cổ, song phải đến năm Cảnh Hưng thứ 25 (1764) mới họp bàn cố định thành văn bản:
“Quan viên sắc mục xã khán chức dịch và đồng dân xã Tường Phiêu huyện Thạch Thất phủ Quốc Oai hội họp ở đình bàn việc cắt cử người tuần phòng trong xã, các điều khoản này đã từng khẩu truyền xin kê khai ra dưới đây”
Có nhiều làng xã tổ chức soạn thảo lại hương ước tục lệ chỉ vì một lý do hết sức đơn giản là sách để lâu dùng nhiều nên bị rách nát. Do mất chữ mất trang, nếu không ghi lại, chẳng hạn như khoán lệ của xã Hạ Hội huyện Từ Liêm (nay là xã Tân Hội huyện Đan Phượng) vốn có khoán lộ lừ cổ song do bị rách nát nên đến ngày mồng 2 tháng 9 năm Tự Đức thứ 11 (1858) dân làng mới soạn lại:
“Quan viên, kỳ mục, chức dịch, trưởng thôn và toàn thể dân lãng Hạ Hội hàn việc biên soạn lại khoán lệ. Duyên do là văn hán ghi chép các điều quy dinh trong khoán lệ của làng bị nát làm thất nhiều chữ, nền dân làng tổ chức hội họp ở đình xem xét lại các điều lệ cũ để định đặt ra điều lệ mới dùng làm mực thước cho muôn đời sau. Đồng thời lại cho viết thành hai bản. Một bản giao cho các quan viên giữ để thi hành. Một bản bỏ vào tráp gỗ cất giữ ở đình. Hàng năm vào ngày bàn giao sổ sách thì viên đương cai trong năm đem ra đọc tại đình, mãi mãi giữ làm lệ.”
Từ khóa tìm kiếm nhiều: le hoi viet nam
