Điều 21: Ngày 19 tháng 11 năm Bính Tý, cựu xã trưởng Nguyễn Đình l âm giao sổ bạ của hội tư văn gồm tổng cộng 30 trang.
Điều 22: Bà Vũ Thị Thịnh người xã Ba Lăng tổng Đông Cứu huyện Thượng Phúc phủ Thường Tín do túng thiếu, bà có số ruộng được chia tại dịu phạn xứ Phan La gồm 1 thửa 2 sào 5 khẩu phía đông gần ruộng của Đỗ công Gia. Phía Tây gồm ruộng của Nguyễn Đăng Hiếu, đông tây tứ bề y như trong ruộng. Theo thời gian số ruộng này đáng giá 9 quan 5 mạch tiền cổ. Nay bán đứt cho Vũ Hữu Nho, Nguyễn Duy Tuấn, Vũ Nguyễn Hằng, Võ Bá Thần trong hội tư văn. Hội tư văn cùng bàn bạc lập khoán ước giao nộp đầy đủ để xin lấy số ruộng bán đứt trên. Tờ khoán giao cho bà Vũ Thị Thịnh đô lấy ruộng. Nếu như có việc sai trái không rõ ràng, người có đất chịu trách nhiệm mà không can hệ gì đến người mua. Theo khoán ước hội tư Văn dùng làm ruộng công mà canh tác. Nước có phép nước, vậy lập văn khế để mọi người chiểu theo đó mà làm.
Lập văn khế ngày 25 tháng 5 năm Cảnh Thịnh 8 (1800)
Vũ Thị Thịnh điểm chỉ
Viết văn khế: Nguyễn Văn Kha ký
Điều 23: Nguyễn Đình Toán (tức Nhiêu Toán) cùng vợ, người xã Ba Lăng tổng Đông Cứu, huyện Thượng Phúc, phủ Thường Tín, do thiếu tiền lo việc sưu dịch, nay có số ruộng được chia gồm 1 sào 5 khẩu nằm ở xứ Đồng Sai. Phía đông gần ruộng của ThếLớn, phía bắc gần ruộng Kim ích. Đông tây tứ bề y như trong ruộng. Nay đem bán đứt cho Vũ Hữu Nho, Nguyễn Đinh Duyên, Vũ Bá Tín, Vũ Bá Tự, Vũ Bá Tráng, Nguyễn Đình Tính, Nguyễn Duy Hài trong hội tư văn của bản xã. Theo thời giá, ruộng trị giá 5 quan tiền cổ. Số tiền này trừ vào việc mua chức xã nhiêu, số còn lại giao cho ThếToán để xin lấy ruộng. Nếu như có việc sai trái không rõ ràng, người có đất chịu trách nhiệm mà không can hệ gì đến người mua. Theo khế ước, hội tư văn lấy đó làm ruộng công mà canh tác. Nước có phép nước, nay lập tờ khế để mọi người theo đó mà làm.
Lập văn khế ngày 16 tháng 2 năm Gia Long 11 (1812)
Nguyễn Đình Toán ký.
Viết văn khế: Nguyễn Đình Bính ký.
Điều 24: Nguyễn Kim ích, người xã Ba Lăng tổng Đông Cứu huyện Thượng Phúc phủ Thường Tín cùng vợ, do thiếu tiền chi dùng, nay bán số ruộng được chia nằm ở Vườn Dù gồm 3 sào 8 khẩu 5 thốn. Phía đông gần ruộng của Nguyễn Duy Chiểu, phía tây gần ruộng của Nguyễn Đình Bể, phía nam gần ông Sứ, bắc gần ruộng của Cai Ngâm. Nay đem bán đứt số ruộng cho các quan viên chức sắc trong hội tư văn của bản xã: Ông Vũ Hữu Nho, Nguyễn Đình Duy, Vũ Bá Lăng, Vũ Bá Tự, Vũ Bá Tín, Vũ Bá Tráng, Nguyễn Đình Thuyên, Nguyên Hữu Xuân. Hội tư văn định giá theo thời giá là 15 quan 4 mạch tiền cổ. Căn cứ vào ngày lập khế ước mà trừ đi 10 quan tiền mua chức xã nhiêu và 2 quan tiền mua chức đương cai. Số còn lại giao nộp đủ để xin lấy số ruộng bán đứt trên. Giao tờ khế ước cho Nguyễn Kim ích để lấy ruộng. Nếu như có việc sai trái không rõ ràng, người có đất chịu trách nhiệm mà không can hệ gì đến người mua. Theo đó mà lập khoán ước và nhận phần canh tác truyền lại cho con cháu làm ruộng tư văn. Nước có phép nước vậy nên lập văn khế để mọi người theo đó mà sử dụng.
Lập văn khế ngày 10 tháng 2 năm Gia Long 11 (1812)
Nguyễn Kim ích ký.
Tổng cộng các tờ văn khế và giao ước trên đây là 11 bản, gồm 4 mẫu 2 sào 7 thốn 1 thước 7 tấc ruộng.
Có đính kèm 1 bức văn khế ở sau và 6 bức văn khế đời Gia Long kèm ở trên.
Từ khóa tìm kiếm nhiều: tuc le lang
