Pages

Được tạo bởi Blogger.

Điều lễ thờ cúng của xã Ba Lăng tổng Đông Cứu huyện Thượng Phúc

     Còn Hội Tư văn xã Ba Lăng tổng Đông Cứu huyện Thượng Phúc phủ Thường Tín tỉnh Hà Nội, thiết nghĩ: hội lấy văn làm tên cũng nên nhìn lại cái mà suy ngẫm. Còn như văn hội làng nào thì có phong hóa của làng đó. Nếu chỉ nhìn, nghe một cách thoảng qua thì thấy mọi sự một cách thoáng lướt. Phong hóa đề ra và dẫn dắt con người. Những người nghe và nhìn thấy thì theo đó mà làm, đó là một điều lễ nghĩa vậy. Điều lễ nghĩa đó là sự kính trọng và hài hòa mà thôi chứ không phải ở việc sùng bái tế lễ.

     Bậc tiên triết làm lễ báo minh thần biết. Có đề ra và dẫn dắt thì sẽ có người bắt chước làm theo. Cũng dễ vậy. Hội tư văn không chỉ là phong hóa của một làng mà còn là phong cách chung của một thời. Kính trọng mà đem đến, thực hiện một cách hài hòa. Lễ nghĩa chính là ở điều đó vậy, biết nếu ra và dẫn dắt, biết bắt chước theo cũng làở chỗ đó. Đó là một điều lễ nghĩa. Dừng lại ở điều nghĩa thì hội văn sẽ được mọi người tin theo. Không theo những lời phù phiếm, bèn ghi lại mấy lời để điều hòa mọi sự việc. Bèn ghi lại như sau:

Điều lễ thờ cúng của xã Ba Lăng tổng Đông Cứu huyện Thượng Phúc

Điều 1: Thờ cúng các bậc tiên triết. Vào 2 kỳ tế xuân thu có số ruộng thu hạ điển và tiền vốn giữ lại để thờ tự, từ năm trước toàn hội cùng sửa lễ.

Điều 2: Từ chỉ phủ miếu, cựu quán, chính đàn thì thờ tiên thánh, 4 đàn 2 bên tả hữu thì thờ tứ phối, 2 đàn tả hữu phía ngoài thập triết thì thờ tiên hiền, hậu hiền. Đây không phải là điều gì mới vẫn chỉ là những điều cũ. Lễ nghi không thể không to. Đến ngày lễ chính (tháng 2 dùng ngày hạ đinh, tháng tám dùng ngày trung đinh) viên câu đương sắm sửa lễ vật, sai người nhà và các lệnh cai của 8 giáp bày biện cho thật trang trọng, thanh khiết, cùng mọi người áo quần tề chỉnh để cáo lễ. Nếu có lý do phải vắng mặt cho phép dùng trầu cau để cáo khiếm; yết lễ xong thì ở lại, chờ đến khi hành lễ chính. Xóm trưởng của 6 xóm ngày hôm đó phải cử các trai tráng cùng đuốc gậy để bảo vệ, thể hiện sự nghiêm túc.

Điều 3: Việc bày biện các đồ tế khí cùng đèn hương trầu nước nhờ người giữ đền (thủ từ).

Điều 4: Việc đọc chúc văn, làm chủ tế cũng nhờ thủ từ.

Điều 5: Chức câu đương thay phiên nhau làm, đều lấy hạn là nửa năm 1 làn.

Giao cho cả hội số tiền lãi, trước 10 ngày bản hội cùng hội họp các viên câu đương chiểu theo số tiền lãi mà sửa lễ cho kịp. Nếu người nào thiếu bản hội sẽ kê số người đó và lãnh số tiền khác giao cho câu đương để cho nó tiếp tục sinh lợi mỗi ngày mấy văn tiền. Căn cứ vào số thu của người thiếu để nộp nguyên số tiền thiếu đó.

Điều 6: Số ruộng thu hạ điền của tổ tiên để lại tổng cộng các thửa ruộng là 1 mẫu 6 sào hai khẩu 3 ngũ ở địa phận của bản xã, ruộng khuôn điền ở các phủ miếu cũ là 1 thửa tổng cộng 8 sào tại địa phận xã Cống Xuyên. Nay chia đều làm 4 phần để luân phiên cày cấy. Mỗi phần một năm phải biện 50 phẩm oản quả. Hễ ngày tế đinh xuân thu hàng năm, mỗi lễ mỗi phần 25 phẩm, đều dùng lúa gạo tốt, người nào làm tốt nhất thì thưởng 2 phẩm, người thứ hai thưởng 1 phẩm. Việc sửa oản quả cho ngày cáo lễ mỗi phần là 10 phẩm, ngày lễ chính mỗi phần 15 phẩm. Nếu gạo dùng không ngon mà dùng gạo khác phải có hội đồng xác thực.



Từ khóa tìm kiếm nhiều: hương ước là gì