Pages

Được tạo bởi Blogger.

Điều lệ làng về việc thu tiền lãi và chia ruộng luận phiên

Điều 25: Số tiền vốn của tổ tiên để lại cho phép thu tiền lãi mỗi quan là 4 mạch tiền một năm. Điều này đã được ghi ở trên. Nay cho phép thu thêm tiền lãi mỗi quan là 2 mạch một năm. Số tiền này chia cho 2 ngày lễ tế để biện lễ hoặc lúc thiếu tiền. Nay cho phép thu tăng thêm tiền lãi mỗi quan là 3 mạch tiền 1 năm. Số tiền này dùng để biện lễ cho 2 kỳ tế lễ.

Điều 26: Năm Nhâm Thân, hội tư văn chiếu thu số tiền vốn để mua thêm ruộng tự điền tại xứ Cửa Đình chia đều làm 4 phần, lúc đó đã ghi lại làm điều lệ, xong viên thủ bạ cũ làm mất điều lệ này. Nay xin chép lại để tiện ghi nhận.

- Phần thứ nhất: góc Đông bắc

- Phần thứ hai: góc Tây bắc

- Phần thứ ba: góc Đông nam

- Phần thứ tư: góc Tây nam

Số ruộng trên tổng cộng 4 mẫu, 2 sào 7 thốn 1 thước 7 tấc chia đều làm 4 phần. Luân phiên nhau mỗi năm 4 người canh tác. Bất luận lớn bé mỗi năm chiểu thu mỗi phần 15 quan thanh tiền (tiền đồng). Số tiền này chia cho 2 kỳ tế lễ và được giao cho quan câu đương biện lễ vật. Các hạng tô thuế do bản xã chịu.

Điều lệ làng về việc thu tiền lãi và chia ruộng luận phiên

Điều 27: Hàng năm cử 4 người lo việc biện lễ cúng: vào tiết Thượng nguyên cử 2 người biện cỗ dâng lên chùa, vào tiết Trung thu cử 2 người biện lễ dâng lên đình, kính lễ các bộ hạ cùng các quan viên thổ thần, thổ địa. Sau đó thấy công việc quá nặng nề bèn bỏ đi. Nay thiết nghĩ nên nêu ra đâu dám bỏ phế, vậy nên giao cho quan câu đương mỗi người 6 quan để biện cỗ. Tháng 2 quan câu đương làm cỗ Thượng nguyên, tháng 8 quan câu đương làm cỗ Trung thu. Đến ngày tế đinh chiểu theo số tiền lãi mà trao trả cho đủ.

Điều 28: Hễ có việc cưới xin, chủ hôn phải trình báo để cho chánh thứ văn trưởng đối chất, sau đó trình cho lý trưởng xin phép được đến đình đánh trống làm hiệu. Xong xin được lễ trong đình gồm 1 hộp trầu 10 miếng, lễ xong biếu chánh văn trưởng 5 miếng, biếu thứ văn trưởng 5 miếng. Ngoài ra còn phải lễ các quan tả hữu 1 hộp trầu cau gồm 100 miếng, 1 nải rượu. Nếu có viên mục nào cùng đến thì cùng ăn uống. Rượu đem biếu lý trưởng. Số trầu cau giao cho chủ hôn chiểu theo số người trong hội tư văn mà chia đều. Còn số tiền lan giai 1 quan 8 mạch giao cho chủ hôn đến nhận giữ. Đến kỳ tế đinh vào mùa xuân, giao số tiền này cho quan câu đương biện lễ mà không được giao cho ai khác. Những tục cũ này xin được ghi lại làm lệ.

Quan trưởng Tú tài Nguyễn Duy Tiễn phụng chép.


Quy định về đồ lễ của các kì tế trong năm

Điều 21: Ngày 26 tháng 2 năm Tự Đức (1864) toàn hội lại định ra: trước 10 ngày của 2 kỳ tế đinh xuân thu hàng năm hội cùng thu tiền tức giao cho quan câu đương mua lợn rượu và gạo tổng cộng hết 10 quan tiền. Nay ghi lại, ngày lễ cáo yết và ngày lễ chính tiền mua gạo, rượu cả thảy là 15 quan tiền chi dùng đủ.

Nay lại định lại.

Điều 22: Ngày mồng 2 tháng 8 năm Tự Đức 25 (1871) hội tư văn cùng hội họp định ra 1 khoản: Lễ cầu phúc hàng năm vào tháng 8 và tháng 12, mọi người trong hội tư văn sắm sửa đồ lễ để cúng các phẩm quả đều như nguyên ngạch. Duy các lễ vật ngoài đình theo như quy định, giao cho các quan viên biện lễ mỗi người biện 1 con lợn nguyên. Những người dự thi hương đều biện lễ 8 quan tiền chì. Mỗi lễ 8 giáp chi dùng hết 4 quan tiền và giao cho các quan viên thay nhau biện lễ. Ngày lễ xem xét, cỗ bàn trừ rượu và cơm phải lo cho đủ, mỗi mâm 1 quan tiền chì. Ăn không hết chia đều không được lấy lẫn. Bắt đầu từ tháng 8 năm Tân Mùi, vào 2 kỳ cầu phúc, tám giáp cùng chi tiền để biện lễ. Mỗi giáp dâng 1 hũ rượu: giáp lớn thì hũ rượu 4 mạch tiền, giáp nhỏ thì hũ 2 mạch; trầu cau mỗi giáp một hộp 10 miếng cau.

Nay định ra.

Quy định về đồ lễ của các kì tế trong năm

Văn trưởng Tú tài Nguyễn Duy Tiễn ký.

Điều 23: Ngày 22 tháng 8 năm Tự Đức 28 (1875) hội tư văn cùng hội họp để lập thêm các điều ngạch bổ sung. Các điều ngạch được ghi ở sau:

Hàng năm bốn người thủ quỹ, hội tư văn sẽ trả lại cho họ số tiền lan giai, mỗi người 1 quan 8 mạch, đã có điều lệ định rõ ở trên. Sau đó lại trả thêm cho mỗi người 1 quan 2 mạch tiền. Tổng cộng mỗi người được trả lại 3 quan. Số tiền này chưa được ghi lại, nay theo đó mà ghi lại làm điều ước chung.

Điều 24: Số ruộng tự điền của 2 vụ chiêm và vụ hè do các bậc tiền bối để lại là 1 mẫu 6 sào 2 khẩu 3 ngũ tại địa phận bản xã. Lại ruộng khuê điền trong các phủ miếu vũ tại xã Cống Xuyên gồm 8 sào chia đều làm 4 phần. Việc biện lễ oản quả, mỗi phần một năm phải biện 80 phẩm oản cũng như vậy và đã được ghi ở trên. Ruộng khuê điền trong các phủ miếu giao cho bản phủ để định lại: mỗi phần phải biện 46 phẩm một năm chia cho 2 kỳ tế lễ, hoa quả tăng gấp đôi; điều này chưa được ghi lại làm lệ. Nay định chuẩn mỗi phần phải biện 60 phẩm oản 1 năm, hoa quả cũng biện giống trên. Số oản quả này chia làm 2 kỳ lễ, mỗi phần phải biện 10 phẩm oản vào ngày cáo lễ và 20 phẩm vào ngày lễ chính. Tổng cộng 30 phẩm. Lấy đó để thể hiện hậu ý.



Từ khóa tìm kiếm nhiều: le hoi lang

Quy định của hội tư văn về các đồ dâng lễ

Điều 15: Các đồ dâng lễ chưa được ghi rõ. Nay xin kê lại: bánh dày mỗi mâm 100 cái, bánh lá cũng vậy, còn bánh trôi, bánh chưng đều được bày lên. Trong mâm còn có 50 bát 30 đĩa, còn việc bày thành bao nhiêu tầng thì không quy định.

Điều 16: Ngày tế đinh tháng 8 năm Thiệu Trị 2 (1842) cùng hỏi họp bàn luận, trong đó có 1 điều báo tế minh thần, xin vâng chịu các quy định của tiền bối. Số tiền lan giai của cả xã, hàng năm thu được bao nhiêu đều giao cho bốn người giữ. Việc sắm đồ tế lễ, số tiền không kể ít nhiều đều phải sắm cho đầy đủ. Nay lại bàn bạc phân việc sắm đổ lễ hàng năm cho bốn người, mỗi người 6 quan. Số tiền lan giai chia cho trong năm đó, nếu đủ thì miễn bàn, nhưng nếu số tiền đó thừa thì giữ lại cho 2 kỳ tế đinh. Nếu số tiền lan giai chia cho năm đó thiếu thì chiểu theo sổ hương ẩm của giáp mà thu.

Nay cùng thỏa thuận và ghi lại.

Điều 17: Ngày 15 tháng 8 năm Thiệu Trị 4 (1844) hội đổng cùng hội họp định ra các khoản. Ai sửa đồ lễ phải tăng thêm số gạo thịt. Mỗi thứ được nấu bằng nồi đồng mười. Con cháu sau này cứ thế mà làm theo, nay định rõ. Hàng năm ngày ca hát khi lễ vào đám, ngày lễ Thượng nguyên tháng giêng ai biện 2 mâm cỗ dùng khi lễ xong cũng phải biện đủ thịt nướng, cơm như trên.

Nay lại định lại.

Quy định của hội tư văn về các đồ dâng lễ

Điều 18: Ngày tháng 8 năm Bính Ngọ lại định lại.

Lễ cáo yết khi tế đinh, mỗi phần ruộng được chia phải sửa thêm 5 phẩm oản. Ngày lễ chính sửa thêm 10 phẩm cũng như vậy.

Nay lại định lại.

Hội tư văn cùng y theo.

Điều 19: Ngày tháng 2 năm Tự Đức 2 (1849) lại định lại các điều. Hàng năm ngày lễ chính được tổ chức tại đình, lễ xong đều đến để bái vọng để thể hiện sự cung kính. Đèn hương 3 ngày do thủ từ lo liệu. Biện lễ gồm 1 mâm 10 phẩm oản, 1 con gà, 1 bình rượu, 1 hộp trầu cau đáng giá 1 quan 2 mạch tiền. Hàng năm ngày 22 tháng 12 nộp tiền cho 4 phần ruộng canh tác, mỗi phần 3 mạch tiền. Chuẩn theo số thu được giao nộp cho thủ từ. Cứ theo đó mà làm thành quy thức vĩnh viễn.

Nay ghi lại.

Hội tư văn cùng y theo.

Điều 20: Ngày mồng một tháng 12 năm Tự Đức nguyên niên (1848) hội tư văn cùng hội họp bàn luận. Lại định rõ 1 khoản. Hàng năm vào 2 kỳ tế vào tháng 8 và tháng 12, các đồ tế phải thật thanh khiết. Còn như các mâm cỗ chay, cỗ mặn số bát đũa nhiều ít ra sao hoặc thêm bớt thế nào đều theo lệ cũ. Các oản quả trầu rượu phải dâng lễ trước 1 ngày để xem xét. Hàng năm cỗ bàn trong ngày lễ thượng nguyên cũng bãi bỏ cho bớt tốn kém. Tiền lan giai mỗi người từ 1 quan đến 8 quan tùy theo giàu nghèo, số tiền này được thu vào dịp năm mới.

Nay ghi lại.

Toàn hội tư văn cùng thuận theo



Từ khóa tìm kiếm nhiều: le hoi viet nam

Lệ làng về các phàm đồ cúng lễ trong các lễ tiết

     Điều 11: Phàm đồ cúng lễ lấy thành tâm, trai tịnh làm gốc. Nói rằng hãy nhận lấy lòng thành này, nói rằng hãy dâng cúng các đồ thơm tho lên và nói rằng hãy làm cho thời tiết thuận hòa. Cái gì ở dưới thì nên để dưới. Lại nói rằng nhiều cũng quý mà ít cũng quý, hình thức cũng quý mà nội dung cũng quý. Phàm ở núi thì lấy cá tôm làm lễ, ở ao đầm thì lấy hươu nai, lợn bò làm lễ ấy là lễ vậy.

     Há cần gì sơn hào hải vị, có sao cúng vậy cốt sao các vật dâng lễ được trang trọng đẹp đẽ. Đó là lễ vậy. Lễ cốt ở chỗ cho thật đứng, đồ lễ chay tịnh, lòng thành thật đó là quý và đẹp vậy. Các đồ cúng lễ dâng lên đình. Các mâm cỗ mâm nào cũng chất đầy đồ cúng từ dưới mâm lên đến đỉnh cả thảy là 9 tầng, nào là 50 bát, 30 đĩa, các sơn hào hải vị thật là thanh khiết, 100 phẩm oản đều như vậy. Lễ dâng hai bên tả hữu đình chất đầy 30 bát, 30 dĩa hoặc là các sơn hào hải vị, hoặc là đồ thịt cá, các món đều nhiều và ngon, trầu cau rượu chè, trầu mỗi mâm 1 hộp, rượu mỗi mâm một nậm, trầu cau mỗi mâm 1 hộp (tổng cộng 100 khẩu), rượu mỗi mâm 1 chén. Ngoài ra, khi lễ xong chiểu theo các hạng mà bãi hổi, còn những người lo việc mâm bát thờ cúng thì đến nhà lý trưởng lănh phần biếu. Sự việc xong xuôi, chiểu theo số người mà đến nhà lý trưởng nhận phần. Những người vắng mặt chủ sự sẽ nhận đền cho. Tháng 12 làm lễ dâng lên miếu cũng như vậy.

Lệ làng về các phàm đồ cúng lễ trong các lễ tiết

Điều 12: Những người chủ làm lễ nguyên có tế vọng quan giám đàn thần. Trước một ngày toàn hội tề tựu xem xét các khoản để nhận thực tình.

Điều 13: Các ngày tế lễ, khi hành lễ nghe 1 hồi 9 tiếng trống thì mọi người đều phải tề chỉnh áo mũ, làm mọi việc thật trang nghiêm để thể hiện ra sự tôn nghiêm, kính cẩn. Các đồ biếu đều tuân theo nguyên ngạch.

     Trong hội mọi người đều phải ngồi theo thứ bậc, trước nhất là các bậc chức sắc và những người đã dự ngạch khoa trường, sau đó là các quan sai, lý dịch và những người giúp việc làng và cuối cùng là những người được miễn sưu thuế. Không được nằm ngồi lộn xộn để thể hiện rõ điều lễ.

Điều 14: Các lý dịch trong làng cứ 3 năm nên dự kỳ tuyển, hễ có thực tài thì được làm. Khi đã được tuyển, thì các việc tạp dịch trong bản xã đều được miễn. Các tập tục xưa chưa được ghi lại nay xin tuân theo để cho phong hóa được đầy đặn.

Các điều khoản về việc thờ tự của tiền bối đặt ra gồm 6 điều và 1 điều về tiền khao vọng, 1 điều về tiền vốn cùng 4 điều về việc hiếu, tổng cộng 12 điều, đều đặt trong nguyên ngạch năm Cảnh Thịnh 8 (1800).

Nay xin tuân theo để làm rõ các điển chương.



Từ khóa tìm kiếm nhiều: lễ hội việt nam

Chi tiết các phần đất được chia cho các xứ

    Phần thứ nhất: Chín khẩu ở xứ Vườn Dù; xứ Đồng Sai gồm 7 khẩu 4 ngũ 2 thước 5 thốn; xứ Công Đường: 6 khẩu 2 ngũ; ruộng vụ chiêm ở xứ Phân Gia gồm 1 sào, 5 khẩu; ruộng khuê điền ở các phủ miếu cũ ở xã Cống Xuyên, ruộng ở phía trong phủ cũ gồm 2 sào, tổng cộng 2 sào 7 khẩu 6 ngũ 2 thước 5 tấc.

    Phần thứ hai: xứ Vườn Dù: 9 khẩu, xứ Đồng Sai: 7 khẩu 4 ngũ 5 thước 5 tấc; xứ Công Đường: 6 khẩu 2 ngũ, ruộng vụ chiêm ở xứ Phân Gia, 1 sào 5 khẩu, ruộng Khuê điển ở các phủ miếu cũ tại xã Cống Xuyên ruộng ở phía trong phủ cũ gồm 2 sào, tổng cộng 5 sào 7 khẩu 6 ngũ 2 thước và 5 tấc.

    Phần thứ ba: Xứ Vườn Dù 9 khẩu; xứ Đình Năng 7 khẩu xứ Công Đường, 6 khẩu 2 ngũ; lại ruộng khuê điền ở các phủ miếu cũ tại xà Cống Xuyên và ruộng ở phía trong phủ cũ gồm 2 sào, lại ruộng vụ chiêm ở xứ Phân Gia gồm 1 sào 5 khẩu, tổng cộng 5 sào 7 khẩu 2 ngũ.

    Phần thứ tư: Xứ Đường con cá: gồm 1 sào, xứ Vườn Dù: 4 khẩu 6 ngũ, xứ Công Đường 6 khẩu 2 ngũ; ruộng vụ chiêm ở xứ Phân Gia gồm 1 sào 5 khẩu, lại ruộng khuê điền của các phủ miếu cũ ở xà Cống Xuyên và ruộng ở phía trong phủ cũ 2 sào. Tổng cộng 5 sào 5 khẩu 8 ngũ.

Chi tiết các phần đất được chia cho các xứ

    Bốn phần trên cùng luân phiên canh tác đổ biện oản quá lễ tế hàng năm 4 người lần lượt đem dâng biếu quà cho người chủ lễ. Cứ lần lượt làm như vậy mới khỏi sự tranh chấp. Việc nhận phần canh tác thì năm Nhâm Dần mới bắt đầu. Còn như các hạng tô thuế toàn xã cùng chịu.

Điều 7: Những người trông giữ từ chỉ hàng năm vào 2 kỳ tế xuân thu đều cho một mâm cỗ.

Điều 8: Những người giữ sổ sách hội tư văn, vào 2 kỳ tế đinh hàng năm đều được biếu y như người làm lễ. Những người bất cẩn cũng có điều lệ đinh.

Điều 9: Vào 2 kỳ tế đinh hàng năm và các ngày lễ tiết, các lệnh cai trọng 8 giáp, xóm trưởng các xóm đều nghe theo sự sai bảo cắt cử của toàn hội cốt để làm rõ mạch văn.

Điều 10: Làm lễ báo cho minh thần.

    Các kỳ cầu lễ vào dịp trọng thu và quý đông đều do các bậc tiền bối định ra. Năm đó, số tiền lan giai bao nhiêu đến ngày lễ Thượng nguyên hội tư văn cùng chiểu theo mà thu, giao cho 4 người đó để đi biếu quà. Người chủ lễ sẽ nhận số tiến đó rồi làm lễ dâng lên đình, miếu. Hễ ngày 12 tháng 8, hai người làm lễ kính dâng lên đình. Ngày 1 tháng 12, hai người làm lễ kính dâng lên miếu. Còn như số tiền thu được hàng năm ít nhiều ra sao, tùy theo từng năm mà chia, không định riêng. Nay xin tuân theo những điều quy định của các bậc tiền bối.